Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác

136

Nếu chiếm đoạt tài liệu bí mật công tác là hành vi chuyển dịch trái phép tài liệu bí mật công tác thuộc quyền quản lý hợp pháp của người khác thành quản lý bất hợp pháp của mình thì tiêu hủy tài liệu bí mật công tác là hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu bí mật công tác làm cho tài liệu đó mất giá trị, không sử dụng được nữa. Vậy, người phạm tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác sẽ bị xử lý như thế nào ?

Tội chiếm đoạt hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác bị xử lý như thế nào ?
Tội chiếm đoạt hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác bị xử lý như thế nào ?

1. Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật công tác là những người có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ.

b. Khách thể của tội phạm

Cũng như đối với khách thể của tội cố ý làm lộ bí mật công tác, khách thể của tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật công tác là xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc; làm ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức liên quan đến việc bảo mật của Nhà nước; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, thậm chí gây ra tác hại rất lớn, để người khác lợi dụng chống lại chế độ, gây mất đoàn kết hoặc đối phó với các chủ trương chính sách trước khi được thi hành.

Đối tượng tác động của tội phạm này được nêu ngay trong cấu thành tội phạm, đó là tài liệu bí mật công tác, nhưng được gắn liền với công tác của cơ quan, tổ chức.

c. Mặt khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan

Hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật công tác cũng tương tự như hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu, chỉ khác ở chỗ đối tượng chiếm đoạt không phải là tài sản mà là tài liệu bí mật công tác. Hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật công tác được người phạm tội thực hiện bằng nhiều thủ đoạn hơn hành vi chiếm đoạt tài sản quy định trong Chương Các tội xâm phạm sở hữu.

Người phạm tội chiếm đoạt bí mật công tác vì là người có chức vụ, quyền hạn nên thông thường, hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng hình thức lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nên có thể coi hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật công tác tương tự như hành vi tham ô tài sản. Nếu người không có chức vụ, quyền hạn hoặc nếu có nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài liệu bí mật đó thì lại thuộc trường hợp quy định tại Điều 337 (Tội cố ý làm lộ bí mật Nhà nước).

Tuy nhiên, ngoài hành vi tham ô, người phạm tội có thể còn có những thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài liệu bí mật công tác như: cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt, công nhiên chiếm đoạt, cướp giật, trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt. Nếu người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt bằng những thủ đoạn trên thì cũng phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì mới là hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật công tác.

Hành vi mua bán tài liệu bí mật công tác cũng như hành vi mua bán hàng hóa, nhưng mua bán tài liệu bí mật công tác là hành vi đã bán tài liệu bí mật công tác mà mình có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn; mua, xin, nhặt được hoặc chiếm đoạt tài liệu bí mật công tác để bán lại cho người khác; tàng trữ nhằm mục đích bán lại; vận chuyển để bán hoặc vận chuyển giúp cho người mua bán các tài liệu bí mật công tác.

Hành vi mua bán tài liệu bí mật công tác khác với hành vi mua bán hàng hóa và hành vi mua bán tài liệu bí mật Nhà nước quy định tại Điều 337 ở chỗ, hành vi mua bán tài liệu bí mật công tác chỉ những người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua bán tài liệu bí mật công tác.

Tiêu hủy tài liệu bí mật công tác là hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu bí mật công tác, làm cho tài liệu đó mất giá trị, không sử dụng được nữa, như: đốt cháy, xé bỏ, xóa bỏ các dữ liệu trong máy tính, phá hỏng máy móc có chứa các tài liệu bí mật công tác. Hành vi này cũng tương tự như hành vi tiêu hủy tài liệu bí mật Nhà nước quy định tại Điều 337 nhưng khác ở chỗ, người thực hiện hành vi tiêu hủy tài liệu bí mật công tác phải là người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tiêu hủy tài liệu bí mật có liên quan đến nhiệm vụ của mình.

+ Hậu quả

Hậu quả của hành vi chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác là những thiệt hại về vật chất và phi vật chất cho cơ quan, tổ chức và cho con người.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, chỉ cần người phạm tội có hành vi chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác là tội phạm đã hoàn thành.

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, tức là người phạm tội thấy trước được hậu quả của hành vi tất yếu có thể làm lộ bí mật công tác, mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả đó xảy ra.

2. Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 361 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 361. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác

1. Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật công tác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 110, 337 và 342 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 100.000.000 đồng trở lên;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan, tổ chức;

e) Để người khác sử dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.