Vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ là vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Vậy, người phạm tội bị xử lý như thế nào ?

MỤC LỤC
1. Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, những dấu hiệu cơ bản
a. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có trách nhiệm trong việc quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Tuy là chủ thể đặc biệt nhưng khác với chủ thể đặc biệt của một số tội phạm về chức vụ, người phạm tội này có thể không phải là người có chức vụ, quyền hạn mà chỉ là người có trách nhiệm và trách nhiệm này do tính chất nghề nghiệp mà có như: thủ kho, lái xe, người áp tải…Do đó, khi xác định chủ thể của tội phạm này cần chú ý đến nghề nghiệp và mối liên hệ giữa nghề nghiệp với trách nhiệm của họ khi thực hiện công việc được giao.
Là chủ thể đặc biệt nhưng người từ đủ 16 tuổi trở lên đã có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 của điều luật. Tuy nhiên, những người này chỉ có thể là người đồng phạm.
b. Khách thể của tội phạm
Tội phạm xâm phạm vào những qui định của Nhà nước về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Việc quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được Nhà nước quy định chặt chẽ, xuất phát từ tính chất và công dụng đặc biệt của các đối tượng đó, nhằm đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe của công dân cũng như sự an toàn về tài sản của Nhà nước và công dân.
c. Mặt khách quan của tội phạm
Tội phạm được thể hiện ở hành vi vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
Hậu quả là cấu thành bắt buộc của tội phạm, bao gồm:
– Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
– Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với hậu quả tác hại đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra là dấu hiệu bắt buộc cần xem xét trong cấu thành tội phạm.
d. Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là do vô ý, tức là người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc không thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Xem thêm : Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
2. Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, bị xử lý như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 307 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :
“Điều 307. Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
1. Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc tiêu hủy vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



