MỤC LỤC
1. Sau khi kết hôn, có phải bỏ đạo để theo chồng không ?
Câu hỏi :
Tôi 25 tuổi theo đạo Thiên chúa giáo, người yêu tôi 27 tuổi không theo tôn giáo nào. Khi chuẩn bị kết hôn, về xin phép gia đình, bố mẹ anh đề nghị sau khi kết hôn tôi phải bỏ đạo vì anh là con trai trưởng trong dòng họ, phải thờ cúng tổ tiên. Xin hỏi, pháp luật quy định về quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo như thế nào? Sau khi kết hôn, tôi có phải bỏ đạo để theo chồng không?

Trả lời:
Các bạn cần giải thích cho bố mẹ hiểu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền tự do dân chủ của mỗi người. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định :
“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào… không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo…”.
Điều 6 Luật tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 quy định:
“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”.
Khi bạn kết hôn, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của hai bên thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau. Do vậy, sau khi kết hôn, bạn không bắt buộc phải bỏ đạo để theo chồng.
Để giữ gìn quan hệ gia đình, nhất là nhà chồng, bạn cần giải thích với bố mẹ chồng là việc bạn theo đạo giáo không ảnh hưởng đến nghĩa vụ làm dâu, làm vợ, làm mẹ. Bạn vẫn thực hiện đầy đủ trách nhiệm cùng chồng thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ; các dịp lễ tết thực hiện các nghi lễ cúng bái, thắp hương gia tiên.
2. Ép vợ bỏ tôn giáo, bỏ đạo có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?
Mọi công dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Vợ, chồng cần tôn trọng tín ngưỡng của nhau, không áp đặt, ép buộc người khác phải bỏ đạo, theo bất cứ tôn giáo nào trái với ý chí, nguyện vọng của họ. Do đó, hành vi ép buộc người khác bỏ theo tôn giáo, tín ngưỡng là xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi đủ để cấu thành tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác. Cụ thể, theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác như sau:
“Điều 164. Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Dẫn đến biểu tình;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”



