Các căn cứ để quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật

333

Quá trình áp dụng pháp luật hình sự bao gồm các khâu: định tội danh, định khung hình phạt, quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp. Quyết định hình phạt là việc tòa án lựa chọn biện pháp hình phạt cụ thể với mức độ hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội. Vậy, quyết định hình phạt phải dựa trên những căn cứ nào ?

Căn cứ quyết định hình phạt
Căn cứ quyết định hình phạt

Theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

“Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.”

Để quyết định hình phạt trước hết Tòa án phải lực chọn loại hình phạt (phạt tiền, cải tạo không giam giữ hay tù có thời hạn…) sau đó xác định mức hình cụ thể trong khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Việc quyết định hình phạt phải dựa trên những căn cứ luật định.

Các căn cứ để quyết định hình phạt bao gồm:

– Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự bao gồm cả quy định tại phần chung và phần các tội phạm cụ thể nhằm: Xác định khung hình phạt; xác định loại hình phạt cần áp dụng; xác định mức hình phạt cần áp dụng.

– Cân nhắc vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội và hành vi: Khi quy định hình phạt tòa án cần cân nhắc tính chất nguy hiểm cho xã hội, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

– Nhân thân người phạm tội: Những đặc điểm nhân thân có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi như: phạm tội lần đầu, tiền án, tiền sự; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; là người chưa thành niên hay đã thành niên

Những đặc điểm nhân thân phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo của họ như: tự thú; hối cải; lập công chuộc tội; ngoan cố.

Những đặc điểm nhân thân phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội như: bệnh tật hiểm nghèo; già yếu trên 70 tuổi hoặc trên 60 tuổi nhưng thường xuyên nằm điều trị; phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ; gia đình đặc biệt khó khăn.

– Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được quy định tại các Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết của vụ án cụ thể phù hợp với các dấu hiệu quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nó làm cho tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm đi so với trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hậu quả pháp lý là người phạm tội có các tình tiết giảm nhẹ sẽ được giảm mức hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt nhất định.

“Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.”

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, là căn cứ để tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội (trong phạm vi một khung hình phạt) so với các trường hợp phạm tội tương tự khác nhưng không có tình tiết tăng nặng đó.

“Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội 02 lần trở lên;

h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;

k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;

n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Các căn cứ để quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.