Khi sử dụng chất kích thích, các đối tượng thường rơi vào tình trạng không tỉnh táo, không kiểm soát được hành vi của mình. Vậy khi phạm tội trong trong trạng thái sử dụng chất kích thích, các đối tượng có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?
MỤC LỤC
- 1. Chất kích thích là gì ?
- 2. Phạm tội trong trạng thái sử dụng chất kích thích có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?
- 3. Người sử dụng chất kích thích sau đó gây thiệt hại cho người khác thì có phải bồi thường không?
- 4. Trẻ em sử dụng chất kích thích sau đó gây thiệt hại cho người khác thì ai có trách nhiệm bồi thường ?
1. Chất kích thích là gì ?
Chất kích thích là một thuật ngữ mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều loại hoạt chất làm tăng hoạt động của hệ thần kinh trung ương và cơ thể.
Chất kích thích giúp tăng tốc độ dẫn truyền tín hiệu giữa não và cơ thể. Chúng có thể làm cho một người cảm thấy tỉnh táo, minh mẫn, tự tin hoặc tràn đầy năng lượng.
Chất kích thích bao gồm caffeine, nicotine, amphetamine và cocaine. Liều lượng lớn có thể gây kích thích quá mức, dẫn đến lo lắng, hoảng sợ, co giật, đau đầu, co thắt dạ dày, hung hăng và hoang tưởng. Sử dụng chất kích thích mạnh trong thời gian dài có thể gây tác dụng ngược.
Các chất kích thích phổ biến
- Các chất dạng amphetamain
- Caffein
- Cocaine
- Ma túy đá
- Lá khat
- Nicotine
- Cathinones tổng hợp
2. Phạm tội trong trạng thái sử dụng chất kích thích có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?
Thông thường thì người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà áp dụng chế định khác như bắt buộc chữa bệnh… theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 13 không loại trừ trách nhiệm cho người phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác:
“Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Nghĩa là những người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nếu trong trường hợp khi phạm tội hạn chế hoặc mất năng lực hành vi do việc dùng rượu, bia hoặc chất kích thích khác.
Trên thực tế những người này là người có năng lực trách nhiệm hình sự, việc mất năng lực, hạn chế năng lực do sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích là do họ tự đặt mình vào trong trường hợp đấy. Người phạm tội hoàn toàn ý thức được điều này. Mặt khác, trên thực tế việc say rượu, bia hoặc chất kính thích là thói xấu trong xã hội, việc người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm khi rơi vào trạng thái họ có thể lường trước được còn là biểu thị sự nghiêm khắc của pháp luật đối với hành vi này.
Rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác khi sử dụng dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi một cách tức thời hoặc không có tính chất như bệnh kinh niên, mãn tính, bệnh hiểm nghèo mà có cơ sở y tế xác định không do các yếu tố nếu trên. Một người bị loạn thần, ảo giác do dùng rượu, bia, chất kích thích mạnh khác mà pháp luật đã có những chế tài quy định cấm hoặc xử lý hành chính lại có những hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm do mình thực hiện.
Thực tiễn xét xử người phạm tội do dùng chất ma túy tổng hợp (ma túy dạng đá), có kết luận của cơ quan giám định pháp y tâm thần:
“Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị can có biểu hiện rối loạn, loạn thần do trực tiếp sử dụng các chất gây ảo giác, hội chứng nghiện các chất gây ảo giác. Theo phận loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F16.5/F16.2. Bị can mất khả năng nhận thức và điểu khiển hành vi. Tại thời điểm giám định bị can có biểu hiện hội chứng nghiện các chất gây ảo giác, hiện đang cai trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, có mã só F16.21”.
Như vậy mặc dù bị can rõ ràng có bệnh do dùng chất kích thích là ma túy đá làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm do mình gây ra.
Xem thêm: Thế nào là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự ?
3. Người sử dụng chất kích thích sau đó gây thiệt hại cho người khác thì có phải bồi thường không?
Theo Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại như sau:
“Bồi thường thiệt hại
Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người dùng chất kích thích gây ra được quy định tại Điều 596 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra
1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.
2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”
Theo đó, người sử dụng chất kích thích sau đó gây thiệt hại cho người khác thì vẫn phải bồi thường thiệt hại cho người đó.
Trường hợp một người cố ý dùng chất kích thích làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
4. Trẻ em sử dụng chất kích thích sau đó gây thiệt hại cho người khác thì ai có trách nhiệm bồi thường ?
Quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”
Như vậy, trẻ em sử dụng chất kích thích sau đó gây thiệt hại cho người khác thì người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định như sau:
– Trường hợp trẻ em chưa đủ 15 tuổi: nếu còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà trẻ này có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
– Trường hợp trẻ em từ đủ 15 tuổi trở lên: phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Lưu ý: trường hợp trẻ em này có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của trẻ để bồi thường thiệt hại.
Nếu trẻ em không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình. Người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Chất kích thích là gì ? Phạm tội trong trạng thái sử dụng chất kích thích thì có bị xử lý hình sự không ? Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.