Che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm: những điểm khác biệt

138

Che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm là hành vi xâm phạm tới hoạt động tư pháp của cơ quan có thẩm quyền. Chủ thể thực hiện hành vi này đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Giữa hành vi che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm vẫn có những điểm khác biệt.

Điểm khác biệt giữa che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm
Điểm khác biệt giữa che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm

1. Che giấu tội phạm là gì ?

Che giấu tội phạm là trường hợp người phạm tội tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội (bao gồm cả người đồng phạm khác) các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện điều tra xử lý người phạm tội.

Che giấu trước hết được giải thích là chứa chấp người phạm tội (bao gồm cả người đồng phạm khác) bằng việc cung cấp chỗ ở quần áo, phương tiện đi lại, tiền bạc, giấy tờ nhằm trốn tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Ngoài ra, người che giấu tội phạm có thể cất giấu, phi tang công cụ phương tiện mà người phạm tội sử dụng. Nhiều trường hợp người che giấu có hành tung thông tin không đúng sự thật gây khó khăn cho việc điều tra phát hiện của cơ quan chức năng nhằm che giấu tội phạm.

Che giấu tội phạm cũng có thể được thực hiện bằng hành vi xóa dấu vết tội phạm mà người khác thực hiện. Che giấu vật chứng của vụ án và các hành vi khác gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, phát hiện tội phạm.

Xem thêm : Tội che giấu tội phạm theo Điều 389 Bộ luật Hình sự

2. Không tố giác tội phạm là gì ?

Không tố giác tội phạm là hành vi của một người biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Không tố giác tội phạm thể hiện bằng không hành động. Tố giác tội phạm là nghĩa vụ của công dân, và người không tố giác không làm một việc (tố giác) mặc dù có thể làm và có nghĩa vụ phải làm. Thể hiện ở việc, người không tố giác đã im lặng, không thông báo thông tin mà mình biết về về việc tội phạm đang được chuẩn bị, tội phạm đang thực hiện và đã thực hiện của một hay nhiều người khác cho cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của cơ quan tổ chức biết. Việc thông báo này phải kịp thời, đầy đủ, nếu quá chẫm trễ, không đầy đủ thì không có tác dụng ngăn chặn cũng như phát hiện xử lý người phạm tội thì họ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm.

Xem thêm : Tội không tố giác tội phạm theo Điều 390 Bộ luật Hình sự

3. Che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm những điểm khác biệt

Che giấu tội phạm Không tố giác tội phạm 
Nhận thức của người thực hiện hành vi Không biết biết trước hành vi phạm tội và cũng không có hứa hẹn gì với người thực hiện hành vi phạm tội. Biết rõ hành vi tội phạm sẽ, đã và đang diễn ra nhưng vẫn “giữ im lặng”.
Hành vi cụ thể – Che giấu dấu vết, tang vật của tội phạm

– Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội.

Không tố giác hành vi phạm tội tới cơ quan có thẩm quyền.
Thời điểm phạm tội Sau khi biết hành vi tội phạm đã được thực hiện. Bất cứ giai đoạn nào của một hành vi tội phạm khác (sắp, đang và đã xảy ra).

 

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm những điểm khác biệt. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.