Vay tiền là giao dịch dân sự phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Vậy, nếu người vay tiền đã lập gia đình thì giấy vay tiền có cần chữ ký của 2 vợ chồng không ?

MỤC LỤC
1. Giấy vay tiền có cần chữ ký của 2 vợ chồng không ?
Về hợp đồng vay tiền, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, đây là dạng thoả thuận của các bên (bên cho vay và bên vay) trong một khoảng thời gian nhất định và bên vay có thể phải trả lãi.
Thực tế, nhiều trường hợp không chỉ bên cho vay giao tiền mà bên vay còn phải giao tài sản của mình để thế chấp, ký quỹ… nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình được thực hiện theo đúng thoả thuận.
Do đó, khi ai tham gia vào giao dịch vay tiền thì sẽ phải có tên cũng như chữ ký trong hợp đồng vay tiền ngoại trừ trường hợp một trong các đối tượng thực hiện uỷ quyền khi không có đủ điều kiện tự mình ký kết vào hợp đồng vay tiền.
Từ đó có thể thấy, việc vay tiền cần chữ ký của cả hai vợ chồng đồng nghĩa đây là nghĩa vụ chung (nghĩa vụ trả nợ chung) của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đồng nghĩa, trong trường hợp này, cả hai vợ chồng đều là người vay, cùng phải có trách nhiệm trả nợ theo thoả thuận trong hợp đồng.
Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình, nghĩa vụ chung của hai vợ chồng được xác định trong trường hợp:
– Do vợ chồng cùng ký hợp đồng vay tiền.
– Do một trong hai người đứng ra vay tiền nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
– Việc vay tiền được phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hai vợ chồng…
Căn cứ các quy định này, trong trường hợp nghĩa vụ vay tiền là nghĩa vụ chung của vợ chồng thuộc các trường hợp được nêu tại Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình nêu trên thì trong giấy vay tiền hoặc hợp đồng vay tiền/hợp đồng tín dụng (nếu người cho vay là tổ chức tín dụng) cần phải có chữ ký của cả hai vợ chồng.
Trong trường hợp này, cả hai người cùng đứng ra vay và cùng phải có nghĩa vụ trả nợ cho số tiền vay nêu trong hợp đồng vay tiền với bên cho vay trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Không biết chồng vay tiền, vợ có phải liên đới trả nợ khi ly hôn ?
Khoản nợ không do 02 bên cùng thỏa thuận mà do một bên tự ý xác lập thuộc các trường hợp sau thì có thể được xác định là nợ riêng nếu :
1. Không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
2. Không phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
3. Không để duy trì, không để phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
4. Không phải nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra theo quy định pháp luật;
5. Không phải thuộc trường hợp đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 24, 25 và 26 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đối với khoản nợ riêng này, người xác lập có nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ, không được dùng tài sản chung của vợ chồng để thanh toán cho những khoản nợ này.
Như vậy, căn cứ vào mục đích sử dụng của khoản tiền vay nợ đó để xác định đó là nợ chung hay nợ riêng và vợ chồng có phải cùng trả hay không. Để xác định đó là nợ chung hay nợ riêng thì phải dựa vào mục đích sử dụng của khoản vay nợ. Có hai trường hợp như sau :
Trường hợp 1: việc vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình); thì dù vợ bạn không bàn bạc với bạn và bạn cũng không ký vào hợp đồng vay thì về nguyên tắc, bạn cũng vẫn phải có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ đó cùng với vợ bạn.
Trường hợp 2 : Số tiền vay nợ được vợ bạn sử dụng vào mục đích nhu cầu cá nhân như: đầu tư kinh doanh riêng, mua bán các vật dụng sử dụng cá nhân, chơi cờ bạc, số đề…; nếu bạn đưa ra những chứng cứ chứng minh việc vợ bạn vay số tiền trên nhưng không đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bạn không có nghĩa vụ liên đới trả khoản vay đó.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sẽ triệu tập chủ nợ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và triệu tập người làm chứng (nếu có) để làm rõ các vấn đề tranh chấp. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bạn có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ. Nếu không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó. Lúc này, bạn có thể phải liên đới chịu trách nhiệm với khoản nợ còn lại mà vợ bạn đã vay.

3. Giấy vay tiền viết tay có cần phải công chứng?
Hiện nay, hình thức văn bản của hợp đồng vay tài sản không có quy định bắt buộc về việc công chứng, chứng thực. Vì vậy, các bên có thể lựa chọn việc công chứng hoặc không công chứng hợp đồng vay tài sản:
– Trường hợp các bên lựa chọn công chứng hợp đồng vay tài sản thì tổ chức hành nghề công chứng có nghĩa vụ là người làm chứng cho hợp đồng vay tài sản, hợp đồng có hiệu lực khi các bên đồng ý các thỏa thuận và tổ chức hành nghề công chứng tiến hành công chứng hợp đồng đó.
– Trường hợp các bên lựa chọn không công chứng hợp đồng vay tài sản, nhưng các bên đạt được thỏa thuận và ký kết vào hợp đồng vay, khi đó hợp đồng vay tài sản có giá trị pháp lý và là hợp đồng hợp pháp.
Mặc dù hợp đồng vay tài sản trong cả 02 trường hợp công chứng hoặc không công chứng đều có giá trị pháp lý tuy nhiên khi xảy ra tranh chấp, hợp đồng có công chứng sẽ giúp cho việc chứng minh khoản vay dễ dàng hơn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị thiệt hại hơn so với hợp đồng vay không có công chứng.
4. Khi nào vay tiền chỉ cần chữ ký của một người : vợ hoặc chồng?
Ngược lại với trường hợp nêu trên, không phải mọi tình huống đều bắt buộc cả hai vợ chồng đều phải ký vào giấy vay tiền. Bởi theo Điều 463 Bộ luật Dân sự, đây là sự thoả thuận của bên cho vay và bên vay. Do đó, nếu bên vay chỉ là một trong hai vợ chồng thì trong giấy vay tiền chỉ cần chữ ký của một trong hai người.
Căn cứ Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình, ngoài nghĩa vụ chung thì vợ chồng còn có nghĩa vụ riêng về tài sản. Theo đó, vợ chồng hoàn toàn có thể tự mình thoả thuận vay tiền với người thứ ba mà không liên quan đến người còn lại.
Cụ thể, các trường hợp trong giấy vay tiền chỉ có chữ ký của một trong hai vợ chồng gồm:
– Vợ chồng vay tiền trước khi kết hôn. Trường hợp này, người nào vay thì có nghĩa vụ phải trả trừ trường hợp sau khi kết hôn, hai vợ chồng cùng thoả thuận với người cho vay về việc cùng đứng ra trả nợ.
– Vợ hoặc chồng vì tài sản riêng mà vay nợ: Ví dụ khi vợ hoặc chồng cần tiền và vay tiền để sửa chữa ô tô chở khách là tài sản riêng của người này thì đây là nghĩa vụ riêng của người này. Người còn lại không có nghĩa vụ phải cùng gánh vác trả nợ trừ trường hợp việc vay nợ này nhằm:
– Duy trì, phát triển khối tài sản chung vợ chồng hoặc tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
– Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình.
– Vợ hoặc chồng một mình đứng ra vay nợ không vì nhu cầu của gia đình mà vì mục đích của riêng người đó…
Ngoài ra, còn một trường hợp giấy vay tiền chỉ có chữ ký của một người nhưng nghĩa vụ trả nợ là của chung hai vợ chồng đó là cả hai người cùng có nhu cầu vay vốn nhưng một trong các bên không thể tự mình ký kết mà uỷ quyền cho người khác.
Trong trường hợp này, mặc dù giấy vay tiền chỉ có chữ ký của một người nhưng nghĩa vụ trả nợ vẫn là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng.
Có thể thấy, không phải trường hợp nào giấy vay tiền cũng cần chữ ký của hai vợ chồng. Khi nghĩa vụ vay nợ là nghĩa vụ chung thì cần phải có chữ ký của cả hai vợ chồng trừ trường hợp một trong hai người uỷ quyền cho người còn lại.
Ngược lại, nếu nghĩa vụ vay nợ là nghĩa vụ riêng của từng người thì trong giấy vay tiền chỉ cần có chữ ký của người có nghĩa vụ đó thôi.
Xem thêm : Không biết chồng vay tiền, vợ có phải liên đới trả nợ khi ly hôn ?
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Giấy vay tiền có cần chữ ký của 2 vợ chồng không ? Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.



