Giết người là một trong những hành vi xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe của con người và là một hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng. Vậy, theo quy định của pháp luật, phạm tội giết người, có thể bị tử hình trong trường hợp nào ?

Chủ thể của tội giết người là bất kỳ, nhưng phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên, vì tội giết người là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
MỤC LỤC
1. Phạm tội giết người, bị xử lý như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
“Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”
2. Phạm tội giết người, có thể bị tử hình trong trường hợp nào ?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể : phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình nếu giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Giết 02 người trở lên;
– Giết người dưới 16 tuổi;
– Giết phụ nữ mà biết là có thai;
– Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
– Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
– Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
– Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
– Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
– Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
– Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
– Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
– Thuê giết người hoặc giết người thuê;
– Có tính chất côn đồ;
– Có tổ chức;
– Tái phạm nguy hiểm;
– Vì động cơ đê hèn.
Người phạm tội giết người có bị tử hình hay không phụ thuộc vào hành vi giết người có nằm trong Khoản 1 Điều 123 hay không và dựa trên các tình tiết tăng nặng, mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm, hậu quả và thiệt hại đã gây ra …
Xem thêm : Phạm tội giết người chưa đạt, phải đi tù bao nhiêu năm
3. Quy định của pháp luật về ân giảm án tử hình
Từ các quy định của pháp luật, có thể hiểu ân giảm án tử hình là thẩm quyền của Chủ tịch nước giảm hình phạt tử hình theo bản án đã có hiệu lực pháp luật xuống tù chung thân theo quy định của pháp luật, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, mở ra cho những người này khả năng ăn năn hối cải, cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội.
Khoản 7 Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:
“Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.”
Bên cạnh đó, đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc một trong các trường hợp dưới đây thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm:
– Người đủ 75 tuổi trở lên;
– Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
Theo quy định trên, người bị kết án tử hình được ân giảm vẫn có thể tiếp tục được xét giảm án nhưng vẫn theo điều kiện khắt khe là thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.
Tóm lại, người thực hiện hành vi giết người chỉ bị tử hình khi phạm tội giết người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Các trường khác không bị áp dụng hình phạt tử hình.
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phạm tội giết người, có thể bị tử hình trong trường hợp nào. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



