Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, có được hưởng án treo không ?

297

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi của người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vậy, người phạm tội bị xử lý như thế nào ? Điều kiện để được hưởng án treo ?

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 356. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Chủ thể của tội phạm là người có chức vụ, quyền hạn.

Làm trái công vụ là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này. Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ nên đã gây ra thiệt hại về tài sản có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên. Nếu tài sản bị thiệt hại chưa đến 10.000.000 đồng và không gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì không cấu thành tội phạm này.

Nếu thiệt hại không phải là tài sản mà người phạm tội gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng vẫn cấu thành tội phạm này.

Nếu không gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân mà nhằm mục đích khác, thì tùy trường hợp, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ; tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản hoặc tội tha trái pháp luật người đang bị tạm giam, giữ…

2. Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, điều kiện để được hưởng án treo ?

Tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về điều kiện hưởng án treo như sau:

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Nội dung này cũng được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, theo đó, người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện:

– Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

– Có nhân thân tốt:

+ Người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân;

+ Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích… nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới là ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

– Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như: Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;… và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Nếu có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên.

– Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định (nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên);

– Người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Đồng thời, không thuộc các trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018 như:

– Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

– Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

– Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo…

Đối chiếu với mức phạt Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ nêu trên, người phạm tội chỉ được hưởng án treo khi bị xử phạt với mức phạt tù không quá 03 năm, đồng thời đáp ứng các điều kiện hưởng án treo khác theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 và hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết 02/2018.

3. Bản án về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ nhưng được hưởng án treo

Nội dung vụ án :

Lợi dụng việc UBND huyện HH tổ chức đấu giá 88 lô đất ở tại 4 thôn của xã TT là thôn KB, thôn TH, thôn ĐT và thôn TL vào năm 2011, Nguyễn Văn N là Chủ tịch UBND xã TT đã tự ý đưa ra chủ trương và bàn bạc với Nguyễn Tiến D là thủ quỹ, Văn Đức Ch là công chức kế toán, tài chính thuộc UBND xã TT thu tiền của các hộ gia đình, cá nhân trúng đấu giá quyền sử dụng đất với mức thu 2.000.000 đồng/01 lô đất, trong đó có tiền lệ phí trước bạ, lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Nhà nước và khoản tiền thu trái quy định, mục đích để lấy kinh phí chi tiêu.

Thông qua Trưởng thôn của các thôn có đất đấu giá, N và các đồng phạm đã thu được 172.000.000 đồng (một trăm bảy mươi hai triệu đồng), trong đó có 53.389.000 đồng được sử dụng chi theo quy định của Nhà nước vào các nội dung: nộp phí đấu giá, nộp lệ phí trước bạ cho các lô trúng đấu giá. Số tiền còn lại 118.611.000 đồng (một trăm mười tám triệu, sáu trăm mười một nghìn đồng) là tiền thu trái quy định, không được hạch toán vào ngân sách nhà nước, tuy không chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân nhưng đã gây thiệt hại cho các hộ dân trúng đấu giá đất. Do đó hành vi của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” …

Nhận định của Tòa án :

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình công tác, bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen và có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ thể hiện: Bị cáo là người đã tham gia quân đội nhân dân Việt Nam và được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Băng khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp: 10.000.000đ tiền trách nhiệm dân sự …

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có nơi cư trú ổn định, cụ thể, rõ ràng. Căn cứ vào Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, có được hưởng án treo không. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.