Phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác, có bị xử lý hình sự không ?

146

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, do đó mọi hành vi xâm phạm chỗ ở trái phép đều bị xử lý theo quy định. Hành vi xâm phạm trái phép chỗ ở của người khác nếu nghiêm trọng có thể bị xử lý theo pháp luật hình sự với mức phạt tù tối đa có thể lên đến 5 năm.

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác, bị xử lý như thế nào ?
Tội xâm phạm chỗ ở của người khác, bị xử lý như thế nào ?

1. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân

Căn cứ Điều 22 Hiến pháp 2013 quy định về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở như sau:

1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.

2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.

3. Việc khám xét chỗ ở do luật định.

Theo đó, công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó cho phép. Chỗ ở là nơi một người sử dụng để sinh sống, làm việc, thuộc quyền sở hữu của người đó hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định. Trong đó, chỗ ở có thể là nhà ở, phương tiện hoặc nơi người này được phép sử dụng để ở. Do đó, mọi hành vi xâm phạm, đột nhập trái phép vào nhà người khác đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc.

2. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định của pháp luật hình sự

Hành vi khách quan của tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Người phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác có thể có các hành vi như: khám xét chỗ ở, đuổi người ra khỏi chỗ ở của họ hoặc hành vi khác xâm phạm chỗ ở.

Khám xét trái pháp luật chỗ ở là hành vi lục soát, tìm kiếm những gì mà người khám có ý định tìm kiếm trong phạm vi chỗ ở của người khác.

Khám xét trái phép là khám xét không được pháp luật cho phép như: không có lệnh khám xét chỗ ở, tuy có lệnh nhưng lệnh đó không hợp pháp hoặc khi thực hiện việc khám xét không đúng thủ tục…

Ví dụ: Nghi ngờ người khác lấy trộm đồ của mình nên tiến hành lục soát, tìm kiếm…

Theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc khám chỗ ở có liên quan đến hành vi phạm tội chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định: chỗ ở của người khác có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện có người đang có lệnh truy nã. Việc khám xét này phải có quyết định và phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn và được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Việc khám xét chỗ ở theo thủ tục hành chính tuy không được quy định cụ thể như Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng căn cứ vào quy định về khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, thì nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có thể là chỗ ở. Việc khám xét này cũng phải có quyết định của cấp có thẩm quyền tục hành chính và cũng phải được thực hiện đúng pháp luật về khám chỗ ở theo thủ tục hành chính.

Như vậy, việc khám xét chỗ ở của người khác được pháp luật quy định rất chặt chẽ, nếu khám xét chỗ ở của người khác không đúng với quy định đều là hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác. Tuy nhiên, không phải hành vi khám xét chỗ ở nào cũng cấu thành tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm chỗ ở của người khác, mà chỉ coi là tội phạm khi hành vi đó được thực hiện do cố ý, nếu vì thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém thì tùy trường hợp, có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử lý hành chính.

Đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác nhằm buộc người khác ra khỏi chỗ họ đang ở. Hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ thường do những người không có chức vụ, quyền hạn thực hiện, như: chủ nợ dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đuổi chủ nhà ra khỏi nhà để “xiết nợ”, tranh chấp thừa kế, tranh chấp trong quan hệ thuê nhà, mượn nhà…

Tuy nhiên, cũng có trường hợp người thực hiện hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ lại là người có chức vụ, quyền hạn, trong trường hợp này chủ yếu do những người thực hiện công vụ trái pháp luật như cán bộ điều tra, cán bộ thi hành án, cán bộ thi hành quyết định hành chính gây ra.

Hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ được coi là hoàn thành khi người bị đuổi buộc phải ra khỏi nhà, không kể thời gian là bao nhiêu, đối với một người hay tất cả gia đình họ, không kể sau khi bị đuổi họ không được trở lại hay được trở lại chỗ ở trước khi bị đuổi.

Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ.

Chiếm giữ hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc đang quản lý hợp pháp là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn gian dối lừa chủ nhà và gia đình họ ra khỏi chỗ ở rồi chiếm chỗ ở; tự ý dọn đồ của chủ nhà ra ngoài để chuyển đồ đạc của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm vào nhà khi chủ nhà đi vắng rồi ở luôn trong nhà…

Ví dụ: Chủ nợ siết nợ, giữ nhà của người nợ…

Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác

Hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: dùng thủ đoạn gian dối lừa chủ nhà và gia đình họ ra khỏi chỗ ở rồi chiếm chỗ ở; tự ý dọn đồ của chủ nhà ra ngoài để chuyển đồ đạc của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm vào nhà khi chủ nhà hoặc người quản lý nhà đi vắng rồi ở luôn trong nhà của họ.

Hậu quả của tội xâm phạm chỗ ở của người khác là làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (nhà ở) bị mất vĩnh viễn hoặc mất tạm thời chỗ ở, bị ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sinh hoạt bình thường của họ và các thành viên trong gia đình họ hoặc gây ra những thiệt hại về thể chất, vật chất hoặc tinh thần cho bị hại. Các thiệt hại này đều có liên quan đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác. Nếu xâm phạm đến các quyền khác thì tùy từng trường hợp mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng.

Thời điểm hoàn thành của tội phạm này là kể từ khi quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác bị thiệt hại, không kể mức độ gây thiệt hại nhiều hay ít. Tuy nhiên, mức độ gây thiệt hại càng lớn, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội càng cao, như: chiếm chỗ ở của người khác nguy hiểm hơn trường hợp khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác.

Xem thêm : Tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo Điều 158 Bộ luật Hình sự

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác, có thể bị phạt bao nhiêu năm tù ?

Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm trái phép chỗ ở người khác 

Đứng dưới góc độ xử lý hành chính, hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể hành vi xâm phạm chỗ ở người khác thì bị xử phạt hành chính như thế nào mà chỉ quy định một số hành vi được mô tả trong Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) nói trên.

Việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực gây thương tích cho người khác hoặc chiếm, giữ tài sản (nhà ở) của người khác thì bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 12, điểm e khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Cụ thể :

Khoản 5 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP

“5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Lợi dụng hoạt động ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để thực hiện hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự, hành vi trái với đạo đức, thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

b) Nhận cầm cố tài sản do trộm cắp, lừa đảo, chiếm đoạt hoặc do người khác phạm tội mà có nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Hoạt động dịch vụ bảo vệ có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực nhằm mục đích đe dọa, cản trở, gây khó khăn cho hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

d) Sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng các biện pháp khác mà pháp luật không cho phép để tiến hành đòi nợ;

đ) Làm giả Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ;

e) Sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự giả; Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ giả.”

Khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP

“2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức, trừ trường hợp vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định này;

b) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;

c) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;

d) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có;

đ) Sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép hoặc chiếm giữ tài sản của người khác;

e) Cưỡng đoạt tài sản nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác, có bị xử lý hình sự không. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.