Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó cho phép. mọi hành vi xâm phạm, đột nhập trái phép vào nhà người khác đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc với mức phạt tù tối đa có thể lên đến 5 năm. Vậy, người phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác, để được hưởng án treo cần phải đáp ứng điều kiện gì ?

MỤC LỤC
1. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác, đó là những hành vi nào ?
Người phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác có thể có các hành vi như: khám xét chỗ ở, đuổi người ra khỏi chỗ ở của họ hoặc hành vi khác xâm phạm chỗ ở.
Khám xét trái pháp luật chỗ ở là hành vi lục soát, tìm kiếm những gì mà người khám có ý định tìm kiếm trong phạm vi chỗ ở của người khác.
Khám xét trái phép là khám xét không được pháp luật cho phép như: không có lệnh khám xét chỗ ở, tuy có lệnh nhưng lệnh đó không hợp pháp hoặc khi thực hiện việc khám xét không đúng thủ tục…
Ví dụ: Nghi ngờ người khác lấy trộm đồ của mình nên tiến hành lục soát, tìm kiếm…
Theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì việc khám chỗ ở có liên quan đến hành vi phạm tội chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định: chỗ ở của người khác có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện có người đang có lệnh truy nã. Việc khám xét này phải có quyết định và phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn và được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Việc khám xét chỗ ở theo thủ tục hành chính tuy không được quy định cụ thể như Bộ luật Tố tụng Hình sự nhưng căn cứ vào quy định về khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, thì nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có thể là chỗ ở. Việc khám xét này cũng phải có quyết định của cấp có thẩm quyền tục hành chính và cũng phải được thực hiện đúng pháp luật về khám chỗ ở theo thủ tục hành chính.
Như vậy, việc khám xét chỗ ở của người khác được pháp luật quy định rất chặt chẽ, nếu khám xét chỗ ở của người khác không đúng với quy định đều là hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác. Tuy nhiên, không phải hành vi khám xét chỗ ở nào cũng cấu thành tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm chỗ ở của người khác, mà chỉ coi là tội phạm khi hành vi đó được thực hiện do cố ý, nếu vì thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém thì tùy trường hợp, có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử lý hành chính.
Đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác nhằm buộc người khác ra khỏi chỗ họ đang ở. Hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ thường do những người không có chức vụ, quyền hạn thực hiện, như: chủ nợ dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đuổi chủ nhà ra khỏi nhà để “xiết nợ”, tranh chấp thừa kế, tranh chấp trong quan hệ thuê nhà, mượn nhà…
Tuy nhiên, cũng có trường hợp người thực hiện hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ lại là người có chức vụ, quyền hạn, trong trường hợp này chủ yếu do những người thực hiện công vụ trái pháp luật như cán bộ điều tra, cán bộ thi hành án, cán bộ thi hành quyết định hành chính gây ra.
Hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ được coi là hoàn thành khi người bị đuổi buộc phải ra khỏi nhà, không kể thời gian là bao nhiêu, đối với một người hay tất cả gia đình họ, không kể sau khi bị đuổi họ không được trở lại hay được trở lại chỗ ở trước khi bị đuổi.
Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ
Chiếm giữ hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc đang quản lý hợp pháp là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn gian dối lừa chủ nhà và gia đình họ ra khỏi chỗ ở rồi chiếm chỗ ở; tự ý dọn đồ của chủ nhà ra ngoài để chuyển đồ đạc của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm vào nhà khi chủ nhà đi vắng rồi ở luôn trong nhà…
Ví dụ: Chủ nợ siết nợ, giữ nhà của người nợ…
Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác
Hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: dùng thủ đoạn gian dối lừa chủ nhà và gia đình họ ra khỏi chỗ ở rồi chiếm chỗ ở; tự ý dọn đồ của chủ nhà ra ngoài để chuyển đồ đạc của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm vào nhà khi chủ nhà hoặc người quản lý nhà đi vắng rồi ở luôn trong nhà của họ.
Hậu quả của tội xâm phạm chỗ ở của người khác là làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (nhà ở) bị mất vĩnh viễn hoặc mất tạm thời chỗ ở, bị ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sinh hoạt bình thường của họ và các thành viên trong gia đình họ hoặc gây ra những thiệt hại về thể chất, vật chất hoặc tinh thần cho bị hại. Các thiệt hại này đều có liên quan đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác. Nếu xâm phạm đến các quyền khác thì tùy từng trường hợp mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng.
Thời điểm hoàn thành của tội phạm này là kể từ khi quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của người khác bị thiệt hại, không kể mức độ gây thiệt hại nhiều hay ít. Tuy nhiên, mức độ gây thiệt hại càng lớn, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội càng cao, như: chiếm chỗ ở của người khác nguy hiểm hơn trường hợp khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác.
2. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác, có thể bị phạt bao nhiêu năm tù ?
Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :
“Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;
b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;
c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;
d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
3. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác, có được hưởng án treo không ?
Theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.
Nghị quyết trên được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, theo đó, người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
2. Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
Với các trường hợp:
a) Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;
b) Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;
c) Đối với người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.
3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.
Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.
Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Đồng thời, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định rõ các trường hợp không cho hưởng án treo, gồm :
1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
3. Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.
4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp: a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi; b) Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể.
5. Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp:
a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;
b) Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;
c) Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;
d) Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú.
6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Đối chiếu với mức phạt Tội xâm phạm chỗ ở của người khác nêu trên, người phạm tội chỉ được hưởng án treo khi bị xử phạt với mức phạt tù không quá 03 năm, đồng thời đáp ứng các điều kiện hưởng án treo khác theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 và hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết 02/2018.
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác, có được hưởng án treo không. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



