Tội tham ô tài sản theo Điều 353 và tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều được thực hiện với lỗi cố ý của người có chức vụ, quyền hạn. Vậy, giữa hai tội trên còn có những điểm nào tương đồng hoặc khác biệt không ?
| Tiêu chí | Tham ô tài sản | Nhận hối lộ |
| Khái niệm | Tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. | Nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản thân mình hoặc cho người hoặc tổ chức khác mà mình quan tâm, để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. |
| Chủ thể của tội phạm | Người phạm tội tham ô phải là người có chức vụ, quyền hạn và có trách nhiệm quản lý đối với tài sản mà họ chiếm đoạt. Người có chức vụ, quyền hạn phải là người có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ không có trách nhiệm quản lý tài sản thì cũng không thể là chủ thể của tội tham ô tài sản. | Người phạm tội nhận hối lộ phải là người có chức vụ, quyền hạn và phải là người có trách nhiệm trong việc giải quyết những yêu cầu của người đưa hối lộ. |
| Khách thể của tội phạm | Tội tham ô tài sản trực tiếp xâm hại hai quan hệ xã hội, đó là: xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội; xâm phạm quan hệ sở hữu.
|
Tội nhận hối lộ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, cao hơn là làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. |
| Mặt khách quan của tội phạm | + Hành vi khách quan
Hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có trường hợp người phạm tội tự chuyển dịch tài sản như: thủ quỹ tự lấy tiền trong két, thủ kho tự lấy tài sản trong kho đem bán… Cũng có trường hợp việc chuyển dịch lại do người khác thực hiện theo lệnh của người phạm tội như: giám đốc lệnh cho thủ quỹ đưa tiền cho mình; kế toán lập phiếu thu, phiếu chi, chuyển khoản theo lệnh của người phạm tội. Thời điểm hoàn thành của việc chuyển dịch tài sản là sau khi người phạm tội đã chiếm hữu, sử dụng được tài sản đó. + Hậu quả Đối với tội tham ô tài sản, thiệt hại trước hết là thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại khác phi vật chất. Hậu quả của tội tham ô tài sản, xét về phương diện các yếu tố cấu thành tội phạm thì không phải là dấu hiệu bắt buộc. Đối với tội tham ô tài sản, nhà làm luật quy định chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu tài sản bị chiếm đoạt chưa đến 2.000.000 đồng thì hành vi tham ô tài sản phải thuộc một trong hai trường hợp sau mới cấu thành tội phạm : – Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; – Đã bị kết án về một trong các tội tham nhũng, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. |
+ Hành vi khách quan
Người phạm tội sử dụng quyền hạn được giao như là một phương tiện phạm tội để thực hiện việc nhận hối lộ. Hành vi khách quan của tội phạm được thực hiện bởi 2 loại hành vi: – Hành vi nhận tiền, của hối lộ dưới bất kỳ hình thức nào, trực tiếp hoặc qua trung gian (1). – Làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của mình vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa (2). Trong 2 loại hành vi khách quan này thì hành vi (1) có thể thực hiện trước hành vi (2), tức là nhận của hối lộ rồi làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa. Nhưng hành vi (2) cũng có thể thực hiện trước hành vi (1) – tức là làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa rồi sau đó nhận của hối lộ. Nếu người có chức vụ quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa rồi sau đó nhận của hối lộ thì phải thỏa mãn điều kiện là có sự thỏa thuận trước mới cấu thành tội nhận hối lộ. Nếu người phạm tội làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của mình vì lợi ích hay theo yêu cầu của người đưa mà cấu thành một tội độc lập thì ngoài tội nhận hối lộ họ còn bị truy tố thêm tội đã cấu thành. + Hậu quả Hậu quả của hành vi nhận hối lộ vừa là dấu hiệu bắt buộc, vừa không phải là dấu hiệu bắt buộc. Là dấu hiệu bắt buộc trong trường hợp người nhận hối lộ chưa đến 2.000.000 đồng và có các điều kiện: đã bị xử lý kỷ luật về hành vi nhận hối lộ hoặc đã bị kết án về các tội phạm tham nhũng mà chưa được xóa án. Nếu nhận hối lộ từ 2.000.000 đồng trở lên thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc. |
| Mặt chủ quan của tội phạm | Tội phạm thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. | |
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phân biệt tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.