Phân biệt tội vu khống và tội làm nhục người khác

197

Tội làm nhục người khác theo Điều 155 và tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều xâm phạm đến khách thể là nhân phẩm, danh dự con người và được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp của người phạm tội.

Phân biệt tội vu khống và tội làm nhục người khác
Phân biệt tội vu khống và tội làm nhục người khác
Tiêu chí Tội vu khống Tội làm nhục người khác
Khái niệm Vu khống là hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của con người
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên
Khách thể của tội phạm Hành vi phạm tội xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác
Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan :

Người phạm tội có thể thực hiện một trong các hành vi sau:

– Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Bịa đặt những điều không có thực

Bịa đặt là tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có đối với người khác, như: không tham ô thì bảo là tham ô; không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính;… Trong thực tế không ít trường hợp người có hành vi bịa đặt rất tinh vi, nếu không điều tra xác minh thì rất dễ tin điều đó là sự thật, người bịa đặt trong trường hợp này thường sử dụng những sự kiện có thực mà ai cũng biết để gài đặt vào trong những sự kiện có thực đó những điều không có thực.

Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt

Tuy người phạm tội không bịa đặt, nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng… Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt, còn ai bịa đặt thì không biết.

Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực, nếu họ còn bán tín bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

– Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền

Đây là trường hợp tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm mà hoàn toàn không có thực. Trong thực tế có nhiều trường hợp các cơ quan nhà nước nhận được tin báo về tội phạm và người phạm tội, sau khi xác minh thấy không có tội phạm xảy ra, đã không khởi tố vụ án hình sự hoặc tuy đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, thậm chí đã truy tố ra tòa án, thậm chí tòa án đã kết án người bị tố cáo, nhưng sau khi kiểm tra lại toàn bộ các tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng thu nhập thì mới xác định tội phạm và người phạm tội bị tố cáo là không có thực. Nhưng không phải vì thế mà cho rằng người đã tố cáo có hành vi vu khống, mà phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định người tố cáo không đúng đó có phải là vu khống hay không.

Hậu quả :

Tất cả những hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoặc tố cáo sai người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền đều xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Như vậy, hậu quả của hành vi vu khống phải là nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm, nếu có hành vi vu khống nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội phạm này.

Ngoài cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản thì cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra cũng là bị hại.

Bị hại trong vụ án vu khống có thể bị xúc phạm danh dự, cũng có thể bị thiệt hại về tài sản hoặc những thiệt hại khác về tinh thần, về sức khỏe… nhưng chủ yếu là thiệt hại về tinh thần (danh dự).

Hành vi khách quan :

Người phạm tội phải là người có hành vi (hành động) được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, lột quần áo giữa đám đông người, thỏa mãn thú vui xác thịt,… Tất cả những hành vi này chưa tới mức cấu thành tội phạm như hiếp dâm, cưỡng dâm và không thuộc trường hợp dâm ô đối với trẻ em, mà chỉ xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác.

Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, như: bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình; nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Tuy nhiên, nếu hành vi đó lại cấu thành một tội riêng thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.

Hậu quả :

Người bị hại là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự.

Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý với mong muốn hạ thấp nhân phẩm, danh dự người khác

 

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phân biệt tội vu khống và tội làm nhục người khác. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.