So sánh tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản

264

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 và tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 được nhà làm luật xếp trong chương các tội xâm phạm sở hữu do có những đặc điểm tương đồng nhau.

So sánh tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản
So sánh tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản
Tiêu chí Công nhiên chiếm đoạt tài sản Trộm cắp tài sản
Khái niệm Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để lấy tài sản một cách công khai. Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác
Chủ thể của tội phạm Người phạm tội phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi (Khoản 3 và Khoản 4) có năng lực trách nhiệm hình sự.
Khách thể của tội phạm Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ tài sản. Tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ về tài sản
Mặt khách quan của tội phạm + Hành vi khách quan

Người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh…

Tính chất công khai trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan, nhưng lại là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên đối với mọi người khác. Tuy nhiên, đối với người xung quanh, người phạm tội có thể có những thủ đoạn gian dối, lén lút để tiếp cận tài sản, nhưng khi chiếm đoạt người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.

+ Hậu quả

Hậu quả của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là trị giá tài sản bị chiếm đoạt.

Mặc dù khoản 1 của điều luật quy định trị giá tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo các điều kiện : Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

+ Hành vi khách quan

Người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: chen lấn, xô đẩy nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết.

+ Hậu quả

Hậu quả của tội trộm cắp tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là trị giá tài sản bị chiếm đoạt. Nói chung, tài sản bị chiếm đoạt do hành gây ra là tiền các loại, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như phiếu công trái, ngân phiếu…

 

 

Mặt chủ quan của tội phạm Tội phạm được thực hiện do cố ý.

Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

 

Xem thêm : So sánh tội cướp giật tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.