Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản theo Điều 355 và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 được nhà làm luật xếp trong chương các tội xâm phạm sở hữu. Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản giúp phân biệt 02 tội danh này.
| Tiêu chí | Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản | Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản |
| Khái niệm | Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn và đã có hành vi vượt quá quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của người khác | Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. |
| Chủ thể của tội phạm | Chủ thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản cũng là người có chức vụ, quyền hạn. | Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. |
| Khách thể của tội phạm | Khách thể của tội phạm này là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào các cơ quan, tổ chức.
Tuy nhiên, cũng như đối với tội tham ô tài sản, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản còn có khách thể là quan hệ sở hữu tài sản. |
Tội phạm xâm phạm đến quan hệ sở hữu. |
| Mặt khách quan của tội phạm | + Hành vi khách quan
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi vượt quá quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác. Có thể trong thực tế có những trường hợp khó phân biệt giữa lạm dụng với lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nhưng không vì thế mà cho rằng hai khái niệm là một. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi vượt quá giới hạn cho phép. Giới hạn cho phép chính là quyền hạn mà người có chức vụ có; quyền hạn này do pháp luật quy định, thường là do pháp luật về tổ chức hoạt động của cơ quan, tổ chức quy định; trong một số trường hợp, quyền hạn này do một ngành luật đặc trưng cho nghề nghiệp quy định như: quyền hạn của những người tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự là do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Người có chức vụ, quyền hạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn phải chiếm đoạt tài sản của người khác thì mới cấu thành tội phạm này. Nếu không có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, mà chỉ gây thiệt hại đến lợi ích của người khác thì tùy trường hợp mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ hoặc tội tha trái pháp luật người đang bị tạm giam, giữ… + Hậu quả Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, thiệt hại trước hết là thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại khác phi vật chất. Hậu quả của hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu bắt buộc trong trường hợp người phạm tội chỉ có ý định chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, thì phải là người đã bị xử lý kỷ luật về hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc đã bị kết án về một trong các tội tham nhũng thì mới cấu thành tội phạm. Nếu có ý định chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc. Việc chưa chiếm đoạt được là trường hợp phạm tội chưa đạt. |
+ Hành vi khách quan
Tội phạm được thực hiện bằng một trong các hành vi sau: – Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đã đến thời hạn trả lại tài sản và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả. – Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Như vậy cần lưu ý, việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản. Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (ý thức chiếm đoạt tài sản) thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối, không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản nhưng lại dùng tài sản đó (tài sản nhận từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp) vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. + Hậu quả Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ bị coi là phạm tội nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 4.000.000 đồng trở lên. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị xâm phạm dưới 4.000.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị xử phạt hành chính; đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích…), đồng thời trong các hành vi đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần chiếm đoạt này từ 4.000.000 đồng trở lên, thì hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này theo tổng giá trị tài sản của các lần chiếm đoạt. Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 4.000.000 đồng cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu thuộc một trong các trường hợp sau: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ,
|
| Mặt chủ quan của tội phạm | Tội phạm được thực hiện do cố ý trực tiếp. | |
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



