Tội mua bán trái phép hóa đơn theo Điều 203 và Tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều được thực hiện với lỗi cố ý. Động cơ, mục đích của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

| Tiêu chí | Tội mua bán trái phép hóa đơn | Tội trốn thuế |
| Khái niệm | In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi in, đưa vào sử dụng và mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ | Trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm |
| Chủ thể của tội phạm | Đối với người phạm tội
Chủ thể của tội phạm này là bất cứ ai từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực hành vi. Đối với pháp nhân thương mại Cũng như đối với các tội phạm khác mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, pháp nhân thương mại phải là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện: được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 Bộ luật Dân sự năm 2015; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. |
|
| Khách thể của tội phạm | Khách thể bị xâm phạm của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực in ấn, phát hành hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. | Khách thể của tội trốn thuế là chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước mà cụ thể là chế độ quản lý về việc thu thuế, nộp ngân sách.
|
| Mặt khách quan của tội phạm | Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước được thực hiện ở một trong các hành vi sau:
– In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi làm giả hóa đơn, chứng từ này (làm giả hoàn toàn hoặc sửa lại nội dung của hóa đơn, chứng từ thật đã hết giá trị). Người phạm tội có thể tham gia vào toàn bộ quá trình hoặc tham gia ở từng công đoạn: tìm các mẫu cần làm giả, tạo ra các bản in, mua giấy (nếu hóa đơn, chứng từ làm bằng giấy đặc biệt), máy in, mực in; tìm địa điểm, v.v.. – Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi đưa ra lưu hành trên thị trường các loại hóa đơn, chứng từ này không đúng thẩm quyền hoặc trái với các quy định của Nhà nước. – Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi mua đi bán lại để kiếm lời các loại hóa đơn, chứng từ này mà biết rõ các hóa đơn, chứng từ này không được phép mua bán. Hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước chỉ cấu thành tội phạm này, nếu thuộc một trong các trường hợp sau: – Số lượng ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; – Hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số; – Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.
|
Tội trốn thuế được thực hiện ở một trong các hành vi sau:
– Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật; – Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; – Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán; – Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn; – Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn; – Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này; – Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này; – Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này; – Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế. Các hành vi trên chỉ cấu thành tội phạm trốn thuế nếu thuộc một trong các trường hợp sau: – Trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng – Trốn thuế dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. |
| Mặt chủ quan của tội phạm | Người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi là do cố ý.
Động cơ, mục đích của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội bao giờ cũng vì động cơ tư lợi. |
|
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội mua bán trái phép hóa đơn và tội trốn thuế. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



