So sánh tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

195

Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo Điều 368 và Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội theo Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều được thực hiện với lỗi cố ý. Chủ thể của các tội phạm này đều là chủ thể đặc biệt.

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Tiêu chí Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Khái niệm Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã khởi tố, kết luận điều tra, quyết định truy tố đối với người mà mình biết rõ là không có tội. Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng không khởi tố, không truy tố người mà mình biết rõ là có tội.
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố mới là chủ thể của tội phạm này. Những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố, bao gồm: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát; điều tra viên, kiểm sát viên. Chủ thể của tội phạm này tương tự như chủ thể của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, bao gồm: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát; điều tra viên, kiểm sát viên.

Ngoài những người trên, có thể còn có người có thẩm quyền của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao

nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khách thể của tội phạm Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là trực tiếp xâm phạm đến danh dự của người bị oan và không ít trường hợp gây thiệt hại cho người bị oan về thể chất, tinh thần, về tài sản, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội phạm không chỉ xâm phạm đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, mà còn xâm phạm đến nguyên tắc “mọi hành vi phạm tội phải bị phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh”. Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là việc cố ý bỏ lọt tội phạm và do đó còn xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân.
Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan

Người phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội có thể thực hiện một trong các hành vi sau: ra quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, ký kết luận điều tra, quyết định truy tố mà biết rõ người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là người không có tội.

Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

Hành vi khách quan

Người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội có thể thực hiện một trong các hành vi sau:

– Ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không kết luận điều tra vụ án; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với người mà mình biết rõ là có tội.

– Điều tra viên không lập hồ sơ vụ án; không triệu tập bị can hoặc có triệu tập nhưng không tiến hành hỏi cung bị can và những người tham gia tố tụng khác; không quyết định áp giải bị can; không thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ; không tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nhiệm điều tra; không tiến hành các hoạt động điều tra theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan điều tra.

– Viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can; ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; quyết định không phục hồi điều tra; quyết định không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; không yêu cầu cơ điều tra thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; không quyết định việc truy tố.

– Kiểm sát viên không kiểm sát việc khởi tố, không kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; không đề ra yêu cầu điều tra; không triệu tập và hỏi cung bị can; không triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên án; không kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; không đến đọc cáo trạng, quyết định của viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; không hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội.

Trong các hành vi trên của người tiến hành tố tụng, có thể có hành vi chỉ là hành vi vi phạm tố tụng, nhưng nếu các hành vi đó đều nhằm mục đích để lọt người phạm tội hoặc để lọt tội phạm thì người tiến hành tố tụng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.

Khác với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, đối với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội bao gồm cả hành vi không khởi tố vụ án của người có thẩm quyền, vì nếu không khởi tố vụ án thì cũng không có căn cứ để khởi tố bị can. Tuy nhiên, hành vi không khởi tố vụ án chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó liền ngay trước hành vi khởi tố bị can, nếu không khởi tố thì không thể khởi tố bị can được; nếu chưa xác định được bị can mà không khởi tố vụ án hoặc hành vi không khởi tô vụ án của những người chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án, chứ không có thẩm quyền khởi tố bị can thì không cấu thành tội phạm này như: những người có thẩm quyền của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự (trừ trường hợp những người có thẩm quyền trong các cơ quan này được khởi tố bị can đối với tội phạm ít nghiêm trọng). Nếu những người này không khởi tố vụ án thì những người có thẩm quyền như: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát; điều tra viên, kiểm sát viên vẫn có quyền đề xuất khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp).

 

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.