So sánh tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới và tội vi phạm quy định về xuất nhập cảnh

127

Người phạm tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới theo Điều 346 và tội vi phạm quy định về xuất nhập cảnh theo Điều 347 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý.

Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép
Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép
Tiêu chí Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới Tội vi phạm quy định về xuất nhập cảnh
Khái niệm Vi phạm quy chế về khu vực biên giới, được hiểu là hành vi không chấp hành, chấp hành không đúng các quy định của Nhà nước về cư trú, đi lại hoặc các quy định khác về khu vực biên giới. Xuất cảnh, nhập cảnh trái phép là hành vi ra khỏi biên giới Việt Nam hoặc vào lãnh thổ Việt Nam không có giấy phép theo quy định của pháp luật về xuất, nhập cảnh.
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Khách thể của tội phạm Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính về cư trú, đi lại và các nội dung quản lý khác ở khu vực biên giới. Tội phạm này xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mặt khách quan của tội phạm Có hành vi vi phạm quy định về cư trú, đi lại ở khu vực biên giới. Được hiểu là hành vi không chấp hành, chấp hành không đúng các quy định về cư trú, đi lại ở khu vực biên giới (như không đăng ký tạm trú, tạm vắng, không có giấy thông hành…).

Có hành vi vi phạm quy định khác về khu vực biên giới. Được hiểu là hành vi không chấp hành, chấp hành không đúng các qui định khác về khu vực biên giới (như đi công tác vào khu vực biên giới không có giấy giới thiệu, vi phạm vùng cấm hoặc vành đai biên giới, quay phim, chụp ảnh vùng biên giới mà không có giấy phép…)

Người đã thực hiện một trong các hành vi nêu trên phải thuộc trường hợp đã bị phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi xuất cảnh và nhập cảnh trái phép.

Xuất cảnh trái phép là ra khỏi biên giới Việt Nam mà không có giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hành vi này trước đây thường gọi là “trốn ra nước ngoài”. Hành vi xuất cảnh trái phép xảy ra tương đối phổ biến vào những năm sau khi miền Nam giải phóng, nhưng hiện nay hành vi xuất cảnh trái phép không còn phổ biến như trước, nếu có thì cũng chủ yếu là đi liền với hành vi phạm tội khác như: tổ chức người khác trốn đi nước ngoài; buôn bán phụ nữ đưa ra nước ngoài hoặc sau khi phạm tội bị phát hiện, bị truy nã nên đã trốn ra nước ngoài để trốn tránh trách nhiệm.

Nhập cảnh trái phép là từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam. Nếu trước đây hành vi xuất cảnh trái phép là phổ biến thì hiện nay hành vi nhập cảnh trái phép lại xảy ra nhiều. Người nhập cảnh trái phép thường là người nước ngoài, họ vào Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau và từ Việt Nam đi nước thứ ba với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người nhập cảnh trái phép lại chính là người Việt Nam nhưng họ đã ra nước ngoài làm ăn sinh sống, thậm chí đã nhập quốc tịch của nước sở tại, khi về Việt Nam không đựơc các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cũng như Nhà nước sở tại cấp thị thực.

Không coi là nhập cảnh trái phép đối với người Việt Nam phạm tội sau đó trốn ra nước ngoài sau một thời gian lại trở về Việt Nam.

Hành vi ở lại Việt Nam trái phép chủ yếu là người nước ngoài, người không có quốc tịch đến Việt Nam bằng con đường hợp pháp như: đến Việt Nam học tập, lao động, công tác, tham quan, du lịch, thăm thân… nhưng sau khi hết hạn đã không rời khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người Việt Nam đang học tập, lao động, công tác ở nước ngoài được về Việt Nam nghỉ phép nhưng hết hạn không chịu rời khỏi Việt Nam.

Không coi là ở lại Việt Nam trái phép đối với người nước ngoài bị Toà án áp dụng hình phạt trục xuất, nhưng cố tình không rời khỏi Việt Nam, mà trường hợp này nếu xảy ra thì thuộc trường hợp không chấp hành án quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự.

Hậu quả cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm này, nhưng nếu hậu quả do hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc trốn ở lại Việt Nam trái phép gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì hoặc là người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác hoặc phải bị xử phạt nặng hơn người phạm tội chưa gây ra hậu quả.

Người thực hiện hành vi xuất nhập cảnh trái phép lần đầu chưa phải chịu trách nhiệm hình sự, những vẫn bị xử lý hành chính. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm có hành vi xuất, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

 

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới và tội vi phạm quy định về xuất nhập cảnh. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.