Thế nào là cố ý phạm tội và vô ý phạm tội ?

189

Lỗi là toàn bộ diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội thể hiện thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý.

1. Thế nào là cố ý phạm tội, lỗi cố ý ?

“Điều 10. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.”

Lỗi cố ý bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Ý nghĩa của việc phân định hai loại lỗi cố ý nhằm mục đích phân hóa trách nhiệm hình sự bởi lẽ, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thực hiện với hai hình thức lỗi này là không giống nhau: lỗi cố ý trực tiếp nguy hiểm hơn lỗi cố ý gián tiếp khi các dấu hiệu khác của tội phạm cũng như nhân thân người phạm tội là như nhau.

Cố ý phạm tội
Cố ý phạm tội

Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra.

Từ quy định này cho thấy lỗi cố ý trực tiếp được thể hiện như sau:

– Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả tất yếu xẩy ra hoặc có thể xảy ra.

– Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra. Như vậy, đối với lỗi cố ý trực tiếp thái độ đối với hậu quả là mong muốn tức là hậu quả là mục đích cuối cùng của việc phạm tội và họ chủ động trong việc gây ra hậu quả

Ví dụ: Một người đã thành niên không mắc bệnh về nhận thức, kê súng vào đầu người khác bóp cò làm nạn nhân chết. Xét về mặt lý trí, người này nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả của hành vi và từ hành vi đó suy luận người này mong muốn cho nạn nhân chết (hậu quả xảy ra). Như vậy người này phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra.

Từ quy định này cho thấy lỗi cố ý gián tiếp được thể hiện như sau:

– Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả có thể xảy ra.

– Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng bỏ mặc không quan tâm đến hậu quả, hậu quả xảy ra như thế nào cũng chấp nhận.

Như vậy lỗi cố ý gián tiếp chỉ khác với lỗi cố ý trực tiếp ở thái độ với hậu quả: mong muốn hay bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Hậu quả trong lỗi cố ý gián tiếp không phải là mục đích cuối cùng mà người phạm tội mong đạt đến. Người phạm tội cho rằng hậu quả xảy ra thế nào cũng không cần thiết, nhưng họ phó mặc, không có ý thức ngăn ngừa hậu quả xảy ra. Nói cách khác thái độ tâm lý của lỗi cố ý gián tiếp cũng mang tính chất chủ động.

Lỗi cố ý gián tiếp được quy định trong một số tội nhất định như: tội giết người, tội cố ý gây thương tích… Đối với lỗi cố ý gián tiếp thì hậu quả đến đâu xử lý đến đó.

Ví dụ: một người cầm dao đâm bừa vào đám đông, nếu có người chết thì sẽ xử tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp vì rõ ràng người này có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Nếu chỉ có người bị thương tích thì xử lý tội cố ý gây thương tích. Bởi lẽ bản chất của lỗi này là tính chất bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Bỏ mặc thể hiện ở việc người phạm tội thấy trước được hậu quả có thể xảy ra nhưng họ có ý thức chấp nhận tất cả các hậu quả cho dù là hậu quả nào.

Xem thêm: Thế nào là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự ?

2. Thế nào là vô ý phạm tội, lỗi vô ý ?

“Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.”

Lỗi vô ý bao gồm vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin. Trong cả hai trường hợp này, người phạm tội đều có thái độ thiếu trách nhiệm với hành vi và hậu quả của hành vi đó khi sai lầm về lý trí dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Thể hiện ở việc họ sai lầm khi thực hiện hành vi mà không đánh giá tính chất của nó cũng như hậu quả xảy ra cho dù có thể thấy trước và luật đòi hỏi buộc phải thấy trước hoặc tự tin, chủ quan, sai lầm trong việc đánh giá các tình tiết khách quan và chủ quan có thể cản trở không cho hậu quả xảy ra.

Vô ý phạm tội
Vô ý phạm tội

Hậu quả của lỗi vô ý mang tính chất thụ động của người phạm tội. Họ không mong muốn, không bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Nói cách khác hậu quả xảy ra nằm ngoài mong muốn của họ. Chính vì vậy đối với lỗi vô ý thì hậu quả xảy ra phải ở mức nghiêm trọng mới bị coi là phạm tội.

Khoản 1 Điều luật quy định về lỗi vô ý vì tự tin (có người gọi là lỗi vô ý do chủ quan): “Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.”

Cơ sở để người phạm tội loại trừ khả năng hậu quả xảy ra trong lỗi vô ý vì quá tự tin là người phạm tội chủ quan tin vào kinh nghiệm, thói quen, tin vào khả năng chuyên nghiệp vụ của mình. Nhưng hậu quả thiệt hại vẫn xảy ra trên thực tế.

Việc xác định lỗi vô ý vì quá tự tin cũng như các hình thức lỗi khác phải dựa vào tổng hợp các yếu tố khách quan và chủ quan. Thông thường chỉ coi là lỗi vô ý do tự tin khi người phạm tội có khả năng nào đó để tự tin. Nếu người phạm tội không dựa vào khả năng để tự tin mà vẫn hành động sẽ là lỗi cố ý gián tiếp.

Ví dụ: Có hai người thợ săn (bắn súng rất giỏi) nhìn thấy bác tiều phu đang ngậm tẩu thuốc từ phái xa, họ thách nhau xem ai bắn trúng cái tẩu. Hậu quả là bác tiều phu bị tử vong. Trường hợp này có thể suy luận đây là lỗi vô ý vì quá tự tin vì thực tế người phạm tội có khả năng bắn súng gỏi và họ tự tin là có cơ sở khác với người không có khả năng bắn súng gỏi hoặc chưa bắn bao giờ.

Khoản 2 điều luật quy định về lỗi vô ý do cẩu thả:

“Lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội tuy không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó”.

Quy định trên cho thấy lỗi vô ý do cẩu thả được thể hiện như sau: Do cẩu thả mà người phạm tội không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (biểu hiện ở trạng thái tâm lý “quên”) không thấy trước hậu quả của hành vi đó. Việc không thấy trước hậu quả có thể là:

Không nhận thức được mặt thực tế của hành vi;

Tuy nhận thức được mặt thực tế của hành vi nhưng không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội;

Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó;

Nghĩa vụ thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội (được xác định trên cơ sở nghĩa vụ tuân thủ các quy tắc an toàn chung trong xã hội)

Có đủ điều kiện để thấy trước hậu quả xảy ra (không có gì cản trở người phạm tội thấy trước hậu quả).

Ví dụ: một người đổ xăng tại cây xăng tiện tay ném mẩu thuốc lá đang hút vào cây xăng gây cháy nổ. Khi ném mẩu thuốc, thực tế họ quên và hành động theo thói quen nên không thấy trước được hành vi của mình là nguy hiểm và cũng không thấy trước được hậu quả. Tuy nhiên, trường hợp này họ phải biết nghĩa vụ phải tuân thủ khi tiếp xúc với vật cháy nổ và cây xăng có biển báo “cấm hút thuốc”. Mặt khác, không có gì cản trở người này nhận thức hành vi và hậu quả mà họ gây ra. Người này phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Thế nào là cố ý phạm tội và vô ý phạm tội. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.