Thủ tục ly hôn đơn phương với người đang bị truy nã ?

295

Người đang bị truy nã là người đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả. Ly hôn với một bên đang bị truy nã có thuộc trường hợp bị hạn chế theo quy định của luật không? Thủ tục ly hôn đơn phương với người đang bị truy nã như thế nào ?

Ly hôn đơn phương với người đang bị truy nã ?
Ly hôn đơn phương với người đang bị truy nã ?

1. Ai có quyền yêu cầu ly hôn ?

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn bao gồm :

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

– Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Ngược lại, nếu vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người vợ có quyền được yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

2. Điều kiện để được yêu cầu ly hôn đơn phương ?

Quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng có thể chấm dứt nếu hai bên cùng thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của một bên. Theo đó, có hai hình thức ly hôn là ly hôn thuận tình và ly hôn đơn phương. Trong đó, điều kiện để ly hôn đơn phương (Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) :

– Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình;

– Vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích;

– Khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ;

– Khi một người vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được;

Theo điểm a khoản 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP

Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

3. Truy nã là gì ?

Truy nã là một hệ thống hoạt động của cơ quan điều tra nhằm truy tìm tung tích, bắt các đối tượng sau:

– Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu;

– Người bị kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn;

– Người bị kết án phạt tù bỏ trốn;

– Người bị kết án tử hình bỏ trốn;

– Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn.

(Điều 2 Thông tư số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC- TANDTC)

Việc một người bỏ trốn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan, bởi trước khi bỏ trốn họ đã tham gia vào các mối quan hệ dân sự (gồm quan hệ nhân thân như: Quan hệ hôn nhân, tuyên bố mất tích, tuyên bố một người là đã chết… và quan hệ về tài sản như: Hợp đồng, thừa kế, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…).

Vậy khi người có quyền và lợi ích liên quan có yêu cầu giải quyết các quan hệ dân sự đối với người đang bị truy nã thì Tòa án có thụ lý không?

Khoản 2 Điều 14 Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự đều quy định

Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Như vậy cả về nội dung và hình thức thủ tục tố tụng thì khi người có quyền lợi liên quan yêu cầu giải quyết quan hệ dân sự đối với người đang bị truy nã thì Tòa án phải thụ lý, giải quyết.

4. Có thể ly hôn đơn phương với người đang bị truy nã không?

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình :

Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn; hạn chế quyền ly hôn chỉ áp dụng đối với người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Đơn khởi kiện vụ án ly hôn với người đang bị truy nã không thuộc các trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ các căn cứ trên, Tòa án phải thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện ly hôn với người đang bị truy nã, cụ thể:

a. Thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng, giải quyết. Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì

3. Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.

b. Thủ tục giải quyết

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự thì:

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Công dân thay đổi nơi cư trú thì trường hợp nào phải thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú. Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì:

Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; … khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng.

Như vậy khi giải quyết vụ án ly hôn đối với người đang bị truy nã thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Cư trú và các đối tượng không được tại ngoại như bị can, bị cáo, người bị kết mà bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án giải quyết theo thủ tục chung.

Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho người đang bị truy nã được thực hiện theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự là niêm yết công khai do không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng cho họ theo Điều 177 và Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự.

c. Căn cứ ly hôn

Khi giải quyết ly hôn với người đang bị truy nã thì Tòa án vẫn căn cứ vào các quy định chung tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình để xem xét, trong đó có căn cứ

Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì: Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ chung sống với nhau, quan tâm giúp đỡ nhau… Từ đó Tòa án có quyết định giải quyết phù hợp đảm bảo quyền lợi cho đương sự.

Tuy nhiên trong vụ án ly hôn nếu có yêu cầu giải quyết về tài sản mà trường hợp cần có người quản lý tài sản của người đang bị truy nã thì cần xác định theo các quy định chung của Bộ luật Dân sự (Tòa án quyết định tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố một người mất tích thì Tòa án chỉ định người quản lý tài sản).

d. Hồ sơ cần chuẩn bị

Để ly hôn đơn phương với người đang bị truy nã, cần phải chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ sau:

– Đơn xin ly hôn (theo mẫu)

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

– Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

– Giấy khai sinh của các con (nếu có con chung, bản sao có chứng thực);

– Sổ hộ khẩu gia đình (bảo sao có chứng thực) hoặc giấy xác nhận thông tin cư trú;

– Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản chung (nếu có tài sản chung, bản sao có chứng thực).

e. Thời gian giải quyết ly hôn

Thời gian giải quyết từ 04 đến 06 tháng

f. Lệ phí, án phí ly hôn

Hiện nay, mức án phí ly hôn đơn phương được xác định theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, cụ thể như sau:

– Trường hợp vợ, chồng không có tranh chấp về tài sản, mức án phí ly hôn đơn phương là 300.000 đồng.

– Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được việc phân chia tài sản và yêu cầu tòa án giải quyết, ngoài mức án phí nêu trên, đương sự còn phải chịu án phí có giá ngạch, được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm giá trị tài sản mà vợ, chồng được chia.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Thủ tục ly hôn đơn phương với người đang bị truy nã ? Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.