Thủ tục ly hôn vắng mặt : Giải quyết như thế nào ?

269

Mặc dù không thể ủy quyền nhưng nếu có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc trường hợp một bên vắng mặt khi ly hôn thì liệu Tòa án có giải quyết không ?

Vắng mặt khi ly hôn đơn phương, Tòa án vẫn tiến hành xét xử ?
Vắng mặt khi ly hôn đơn phương, Tòa án vẫn tiến hành xét xử ?

1. Thuận tình ly hôn, vắng mặt sẽ bị đình chỉ giải quyết ?

Theo Điều 397 Bộ luật Tố tụng Dân sự (TTDS), trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Nếu vợ, chồng hòa giải thành thì đình chỉ giải quyết yêu cầu ly hôn. Nếu không hòa giải thành thì Tòa án sẽ công nhận ly hôn thuận tình khi có các điều kiện:

– Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;

– Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung, chăm sóc, nuôi dưỡng con…

– Sự thỏa thuận bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.

Do đó, nếu muốn hòa giải thì phải có sự có mặt của hai bên. Bởi vậy, nếu thuận tình ly hôn thì bắt buộc phải có mặt của cả hai người.

2. Vắng mặt khi ly hôn đơn phương, Tòa án vẫn tiến hành xét xử ?

Mặc dù không thể ủy quyền tham gia tố tụng nhưng nếu có đơn xin xét xử vắng mặt thì liệu Tòa án có giải quyết không? Theo Điều 228 Bộ luật TTDS, nếu đương sự vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết ly hôn đơn phương khi:

– Người yêu cầu ly hôn, vợ/chồng của người đó có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

– Vợ, chồng vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;

– Nếu vợ, chồng vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đồng thời, nếu sau hai lần triệu tập mà nguyên đơn vẫn không có mặt tại Tòa thì sẽ bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với yêu cầu xin ly hôn đơn phương.

Nếu bị đơn vắng mặt khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 1 thì phiên tòa sẽ bị hoãn nhưng nếu đến lần thứ 2 mà vẫn không có mặt thì Tòa sẽ xét xử vắng mặt.

3. Vắng mặt khi ly hôn đơn phương, có được quyền kháng cáo bản án ly hôn không ?

a. Khi ly hôn, bao lâu nhận được bản án ly hôn ?

Căn cứ khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

14. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Theo đó khi bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa thì việc ly hôn của vợ, chồng mới hoàn toàn chấm dứt và được pháp luật công nhận.

Đối với trường hợp ly hôn thuận tình căn cứ khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 397. Hòa giải và công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

4. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;

b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.

Và khoản 1 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

Căn cứ quy định nêu trên trong thời hạn 12 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản hòa giải, Tòa án sẽ gửi quyết định thuận tình ly hôn cho vợ, chồng.

Đối với trường hợp ly hôn đơn phương theo khoản 1, khoản 2 Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 269. Cấp trích lục bản án; giao, gửi bản án

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án.

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.

Theo đó sau khi kết thúc phiên tòa, trong thời gian 03 ngày, Tòa án sẽ cấp trích lục bản án cho vợ, chồng ly hôn đơn phương. Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án sẽ giao và gửi bản án cho vợ, chồng.

Trường hợp một trong hai bên vợ chồng hoặc cả hai bên vợ, chồng không đồng ý với bản án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm thì có thể nộp đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần nội dung bản án mà mình không đồng ý.

b. Người có quyền kháng cáo bản án ly hôn

Bản án ly hôn được ra do vụ án ly hôn có tranh chấp vì vậy có thể thấy rằng vụ án ly hôn cũng là một vụ kiện thông thường vì vậy theo quy định tại Điều 271 BLTTDS 2015 người có quyền kháng cáo bản án ly hôn gồm:

– Một là, đương sự : vợ, chồng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ly hôn;

– Hai là, người đại diện hợp pháp của đương sự, các tổ chức, cá nhân, cơ quan, khởi kiện có quyền kháng cáo bản án ly hôn, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn.

Lưu ý: ly hôn là vấn đề thuộc về nhân thân nên vợ, chồng không được ủy quyền cho người khác thực hiện thủ tục này. Trong trường hợp vợ, chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ thông thường sẽ đứng ra thay cho chồng vợ bị mất năng lực hành vi dân sự thực hiện thủ tục kháng cáo bản án ly hôn.

c. Thời hạn kháng cáo bản án ly hôn

Căn cứ theo điều 273 Luật Tố tụng dân sự năm 2015 qui định thời hạn kháng cáo bản án ly hôn:

– Trong trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

– Trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Ngoài ra, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định, thời hạn kháng cáo quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày. Và nếu đơn kháng cáo gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo được tính từ ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.

Lưu ý: Khi thực hiện thủ tục kháng cáo bản án ly hôn quá hạn thì người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo quá hạn, trong đó trình bày rõ lý do vì sao kháng cáo quá hạn, kèm theo đó là chứng cứ, tài liệu chứng minh cho lý do đã trình bày trong đơn.

Với trường hợp này, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn thì Hội đồng gồm 3 thẩm phán được thành lập để xem xét đơn kháng cáo quá hạn. Sau khi mở phiên họp xem xét có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và lấy ý kiến thì Hội đồng sẽ quyết định theo đa số về việc có chấp nhận hay không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn bản án ly hôn.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Thủ tục ly hôn vắng mặt : Giải quyết như thế nào ? Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.