Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, bắt trộm, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn, sự lệ thuộc của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng người dưới 16 tuổi để chiếm đoạt (tách người dưới 16 tuổi khỏi sự kiểm soát của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng người dưới 16 tuổi mà không được sự đồng ý của họ).

MỤC LỤC
1. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, những dấu hiệu cơ bản
a. Đối với người phạm tội
Người phạm tội cũng có những hành vi như đối với tội mua bán người như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc dùng thủ đoạn khác nhưng không phải để bán hay chuyển giao cho người khác mà chỉ chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ.
Cũng như đối với tội mua bán người, hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực của người phạm tội cũng tương tự như đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực quy định đối với tội “cướp tài sản” quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực của người phạm tội mua bán người có thể đối với bị hại nhưng cũng có thể đối với người khác; nếu là đối với người khác thì thường người bị hại là trẻ em dưới 10 tuổi, mà thường là trẻ em dưới 03 tuổi nên người phạm tội phải dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực đối với người trông giữ người bị hại để bắt các em. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực với chính người bị hại nếu người bị hại có hành vi chống cự hoặc bỏ trốn bị người phạm tội bắt lại.
Thủ đoạn khác mà người phạm tội sử dụng đối với tội phạm này, ngoài hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực là bắt trộm, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn, sự lệ thuộc của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng người dưới 16 tuổi để chiếm đoạt (tách người dưới 16 tuổi khỏi sự kiểm soát của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng người dưới 16 tuổi mà không được sự đông ý của họ).
Cũng có trường hợp người phạm tội trả tiền cho người trông giữ hoặc cho nạn nhân tiền, tài sản để lôi kéo nạn nhân đến ở với mình. Đối với các nạn nhân còn nhỏ dưới 01 tuổi thì người phạm tội có thể dùng thủ đoạn bắt trộm nạn nhân rồi chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ chứ không bán. Nếu bán cho người khác thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “mua bán người dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 151 Bộ luật Hình sự.
Nhà làm luật chỉ quy định tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, mà không quy định tội chiếm đoạt người dưới 01 tuổi nên đối với nạn nhân dưới 01 tuổi hoặc trẻ sơ sinh (dưới 07 ngày tuổi) bị chiếm đoạt thì người phạm tội cũng chỉ bị áp dụng Điều 153 Bộ luật Hình sự.
Khi xác định hành vi phạm tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, cần phân biệt với trường hợp “bắt cóc” người dưới 16 tuổi nhằm chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ thì vẫn áp dụng Điều 153 Bộ luật Hình sự.
Nếu bắt cóc người dưới 16 tuổi nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 113; bắt cóc người dưới 16 tuổi để đòi chuộc tiền hoặc đem bán cho người khác hoặc bán ra nước ngoài thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169; nếu “bắt cóc” nhằm khủng bố người thân (thường là cha, mẹ, ông, bà) của nạn nhân thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 229 về tội khủng bố; nếu “bắt cóc con tin” nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc con tin quy định tại Điều 301 Bộ luật Hình sự.
Hiện nay, có một số người cha, người mẹ (thường là người cha) sau khi đã ly hôn nhưng không được tòa án giao nuôi con nên đã dùng thủ đoạn để chiếm đoạt con đang sống với người được tòa án giao nuôi. Vậy hành vi chiếm đoạt con đẻ của mình có phạm tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi không?
Có ý kiến cho rằng, xét về hành vi khách quan thì người không được giao nuôi con đã dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt đứa trẻ là hành vi cấu thành tội phạm, nhưng cũng như chiếm đoạt tài sản, có nhiều trường hợp người phạm tội lại chiếm đoạt tài sản của chính mình. Do đó, trong trường hợp này hành vi chiếm đoạt con do chính mình đẻ ra không phải là hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, đa số ý kiến cho rằng, dù là chiếm đoạt con của mình thì vẫn là hành vi chiếm đoạt và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “chiếm đoạt người dưới 16 tuổi”, bởi lẽ tòa án đã có một bản án giao con cho người mẹ hoặc người cha nuôi, tức là đã xét đến điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc đứa trẻ, đồng thời bản án cũng cho phép người không nuôi đứa trẻ có quyền thăm và chăm sóc con mình và bên được nuôi đứa trẻ không được ngăn cấm. Việc người không được tòa án giao nuôi đứa trẻ dùng thủ đoạn để bắt đứa trẻ là hành vi trái pháp luật và phải bị xử lý.
Khi soạn thảo thông tư liên tịch hướng dẫn Điều 120 Bộ luật Hình sự 1999 cũng đã nêu:
“Trường hợp cha mẹ của đứa trẻ ly hôn và một bên không có quyền nuôi con, nếu bên không có quyền nuôi con có hành vi chiếm đoạt đứa trẻ (là con mình) không được sự đồng ý của bên được nuôi con thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật Hình sự”.
Tuy nhiên, khi ban hành chính thức thì nội dung này lại không được quy định trong thông tư liên tịch. Như vậy, hành vi chiếm đoạt con của mình đẻ ra có phải là hành vi phạm tội hay không vẫn chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất.
Khách thể của tội phạm là các hành vi nêu trên xâm phạm đến quan hệ về quyền được chăm sóc, nuôi và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của trẻ em.
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Động cơ thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt nêu trên không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản mà chỉ có ý nghĩa trong việc định khung tăng nặng, lượng hình.
Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, Người từ đủ 16 tuổi trở lên.
b. Đối với người bị hại
Người bị hại của hành vi chiếm đoạt là người dưới 16 tuổi.
Cũng như các trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, việc xác định tuổi của người bị hại là yếu tố bắt buộc đối với cơ quan tiến hành tố tụng.
Việc xác định tuổi của người bị hại được quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như đối với các trường hợp xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên theo hướng không có lợi cho người phạm tội.
2. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, bị xử lý như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể :
“Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;
c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;
d) Đối với từ 02 người đến 05 người;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đối với 06 người trở lên;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi theo Điều 153 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



