Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự

183

Chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cho cơ quan có trách nhiệm về tài sản do bị giao nhầm, do tìm được, bắt được sau khi đã có yêu cầu nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật.

Tội chiếm giữ trái phép tài sản có thể bị phạt đến 05 năm tù
Tội chiếm giữ trái phép tài sản có thể bị phạt đến 05 năm tù

1. Tội chiếm giữ trái phép tài sản, những dấu hiệu cơ bản

a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Người phạm tội phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Khách thể của tội chiếm giữ trái phép tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt tài sản khác, nhưng tội chiếm giữ trái phép tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội có tính chất chiếm đoạt như tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản.

Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản, bao gồm: tiền các loại kể cả ngoại tệ, tài sản và các giấy tờ có giá trị như tài sản (thẻ ATM, thẻ VISA, bằng lái xe…, các loại giấy tờ tùy thân của con người như chứng minh nhân dân, hộ chiếu.

c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan

Trước hết, người phạm tội có được tài sản là do được giao nhầm, do tìm được hoặc bắt được (nhặt được).

Trong trường hợp được giao nhầm, cần xác định người phạm tội hoàn toàn không có thủ đoạn nào để bên giao tài sản tưởng nhầm mà giao tài sản cho mình, nếu người phạm tội có thủ đoạn gian dối để người khác giao nhầm tài sản cho mình thì không phải là bị giao nhầm mà là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp tìm được tài sản, cần xác định tài sản mà người phạm tội tìm được là việc tìm kiếm trái phép, nếu việc tìm kiếm đó được phép hoặc Nhà nước không cấm thì tài sản tìm được thuộc quyền sở hữu của người tìm được. Ví dụ: Đào được vàng trong bãi đào vàng Nhà nước không quản lý hoặc người đào vàng đã được cấp giấy phép.

Bắt được (nhặt được) tài sản là trường hợp nhặt được của rơi, theo quan điểm truyền thống đạo đức thì nhặt được của rơi trả lại cho người bị mất là người thật thà, được xã hội coi đó là cử chỉ đẹp. Tuy nhiên, bên cạnh đó lại có nhiều người theo quan điểm “cá vào ao ai người đó được” nên mỗi khi nhặt được của rơi thường buộc người bị mất phải “chuộc” và những người bị mất tài sản coi việc chuộc lại tài sản là phải đạo, vì dù sao thì tài sản cũng đã bị mất rồi. Bộ luật Hình sự quy định hành vi bắt được tài sản phải trả lại cho chủ sở hữu, nếu cố tình không trả là hành vi phạm tội cũng là để giáo dục mọi người phát huy truyền thống đạo đức không tham lam nếu tài sản đó không do sức lao động của mình làm ra. Tuy nhiên, pháp luật cũng chỉ quy định bắt được tài sản có trị giá nhất định (từ 10.000.000 đồng trở lên), hoặc nếu tài sản dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật. mà cố tình không trả lại cho chủ sở hữu thì mới là hành vi phạm tội.

Không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp là hành vi cố tình giữ tài sản do bị giao nhầm, do tìm được hoặc bắt được khi đã có yêu cầu của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Có thể người phạm tội thừa nhận tìm được, bắt được nhưng cho rằng tài sản đó thuộc sở hữu của mình, nhưng cũng có thể không thừa nhận là mình đã được giao nhầm, đã tìm được hoặc bắt được, nhất là trường hợp được giao nhầm.

Yêu cầu nhận lại tài sản bị giao nhầm do người phạm tội tìm được hoặc bắt được là yêu cầu của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản. Nếu chưa có yêu cầu nhận lại tài sản hoặc yêu cầu đó không phải của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản thì chưa cấu thành tội phạm này.

Tính chất “trái phép” của hành vi không phải là lúc có hành vi nhặt được, đào được…, mà tính trái phép chỉ có từ khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật mà người chiếm giữ cố tình không trả lại chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

+ Hậu quả

Hậu quả của tội phạm này là tài sản bị giao nhầm, bị mất, bị rơi không thu hồi được. Tuy nhiên, nếu là tài sản bình thường không phải là di vật, cổ vật thì phải có trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên thì mới cấu thành tội phạm này.

Nếu tài sản là di vật, cổ vật thì không cần phải có trị giá từ 10.000.000 đồng vẫn bị coi là phạm tội

Theo quy định của Luật Di sản văn hóa được Quốc hội thông qua ngày 29-6-2001 và Chủ tịch nước công bố ngày 12-7-2001, thì cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm trở lên. Tuy nhiên, Luật này không quy định thế nào là vật có giá trị lịch sử, văn hóa, mà chỉ quy định di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Căn cứ vào quy định này, ngoài danh lam thắng cảnh không là đối tượng chiếm hữu trái phép được thì di tích lịch sử – văn hóa, di vật, bảo vật quốc gia đều được coi là vật có giá trị lịch sử, văn hóa.

Theo quy định của Luật Di sản văn hóa, di tích lịch sử – văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; di vật là vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học; bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.

Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.

Nói chung trong những trường hợp này, các cơ quan tiến hành tố tụng cần trưng cầu giám định.

d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt tài sản khác, tội chiếm giữ trái phép tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn giữ bằng được tài sản do bị giao nhầm, tìm được hoặc bắt được. Ngoài mục đích này, người phạm tội không có mục đích nào khác và mục đích này cũng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Trường hợp người phạm tội do không hiểu pháp luật nên đã khai thác hoặc lấy tài sản từ những con tàu bị chìm ngoài biển, trong đó có những tài sản là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia rồi chiếm giữ thì cần phân biệt loại tài sản nào thuộc Nhà nước quản lý, còn trường hợp không thuộc Nhà nước quản lý và hành vi chiếm giữ chỉ cấu thành tội phạm khi “chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật”.

Trường hợp chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại tài sản mà muốn “chuộc” lại tài sản (nhất là các giấy tờ tùy thân) và giữa người mất tài sản với người nhặt được (bắt được) tài sản thỏa thuận về việc “chuộc” lại giấy tờ đó thì hành vi không cấu thành tội phạm.

Xem thêm : Phân biệt tội chiếm giữ trái phép tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

2. Tội chiếm giữ trái phép tài sản, bị xử lý như thế nào ?

“Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản làdi vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Trong trường hợp hành vi vi phạm chưa nghiêm trọng đến mức cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính.

Cụ thể, theo điểm đ khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Nếu có hành vi sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép hoặc chiếm giữ tài sản của người khác sẽ bị xử phạt hành chính từ 3 – 5 triệu đồng. Điểm b khoản 4 Điều này cũng quy định người chiếm giữ buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi này.

Xem thêm : Phân biệt tội chiếm giữ trái phép tài sản và tội sử dụng trái phép tài sản

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.