Tội phạm được quy định tại Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó, người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
MỤC LỤC
1. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn, những dấu hiệu cơ bản
a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Đối với người trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 13 Bộ luật Hình sự).
b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện xâm phạm đến quan hệ hôn nhân tự do, tiến bộ.
c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi khách quan
Người phạm tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện có thể thực hiện một trong các hành vi sau đây:
Cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ là bằng thủ đoạn hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ.
Hành hạ là hành vi của một người đối xử tàn ác với người khác (thông thường là đối với người lệ thuộc mình) một cách có hệ thống (lặp đi lặp lại nhiều lần), gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hành hạ.
Người phạm tội có những hành vi đối xử tàn ác đối với người lệ thuộc mình như đánh đập và những hành động bạo lực khác một cách có hệ thống, được lặp đi lặp lại nhiều lần.
Thông thường, hành vi hành hạ được lặp đi lặp lại và kéo dài vài ngày, vài tuần, thậm chí hàng tháng, hàng năm. Hành vi này không chỉ gây đau đớn về thể xác mà còn gây đau khổ về tinh thần cho người bị hành hạ, nếu hành vi này có gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hành hạ, thì cũng chỉ là thương tích nhẹ chưa tới mức bị truy cứu về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Hành vi hành hạ người khác trong tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện cũng tương tự như hành vi hành hạ trong một số tội phạm khác, chỉ khác nhau ở mục đích của người phạm tội.
Người bị hành hạ chủ yếu là người có quan hệ lệ thuộc với người phạm tội. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp giữa người phạm tội với người bị hành hạ không có mối quan hệ lệ thuộc.
Tuy nhiên, người bị hành hạ trong tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện chủ yếu bắt nguồn từ quan hệ huyết thống.
Ngược đãi là hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, trái với lẽ phải, với đạo đức giữa bố mẹ đối với con cái, giữa ông bà đối với các cháu, giữa vợ chồng với nhau… Tuy nhiên, người bị ngược đãi trong tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện chủ yếu là hành vi đối xử một cách tàn nhẫn của bố mẹ đối với con cái, ông bà đối với các cháu.
Cưỡng ép là cưỡng bức và ép buộc người khác phải làm theo ý mình; đối với hành vi cưỡng ép người khác kết hôn hoặc ly hôn trái với sự tự nguyện của họ, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi không chỉ giới hạn ở chỗ hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần mà còn trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người bị cưỡng ép thì người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra, như: nếu dùng vũ lực để cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ gây ra hậu quả chết người thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người, nếu gây ra thương tích có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích…
Cản trở người khác kết hôn là ngăn cấm không cho nam và nữ kết hôn với nhau mặc dù họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Hành vi cản trở kết hôn cũng có thể được thực hiện bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc thủ đoạn khác, nhưng chủ yếu bằng thủ đoạn yêu sách của cải (thách cưới, đặt điều kiện rất khó thực hiện để cản trở việc kết hôn của hai người nam và nữ…). Trong điều kiện xã hội ngày một văn minh, thì hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ lại bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn trước, ngay việc yêu sách của cải cũng không còn trắng trợn, mang tính chất phong kiến như trước, mà nó tinh vi, khó nhận thấy.
Cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là tìm mọi cách chấm dứt quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đang tồn tại. Nếu ở hành vi trên, người phạm tội tìm mọi cách ngăn cấm kết hôn, thì ở hành vi này người phạm tội lại tìm cách phá vỡ quan hệ hôn nhân đang tồn tại. Hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có thể dẫn đến quan hệ hôn nhân tan vỡ, nhưng cũng có thể quan hệ hôn nhân đó không bị tan vỡ nhưng cũng làm cho cuộc sống chung vợ chồng xáo trộn.
Tất cả các hành vi “cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện” nếu chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội phạm.
Dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm và cũng là dấu hiệu để phân biệt hành vi phạm tội với hành vi vi phạm.
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần có hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, cản trở duy trì hôn nhân tự nguyện, cản trở ly hôn tự nguyện đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính (01 năm), nay lại có hành vi vi phạm cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, cản trở duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc đã có lần cản trở kết hôn, cản trở duy trì hôn nhân tự nguyện, cản trở ly hôn tự nguyện thì cũng không cấu thành tội phạm này.
+ Hậu quả
Hậu quả của hành vi “cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện” là những thiệt hại về vật chất, tinh thần mà người phạm tội gây ra cho người khác và cho xã hội, mà chủ yếu là đối với bị hại.
Hành vi “cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện” có thể gây ra một trong những thiệt hại sau:
– Làm cho việc kết hôn, ly hôn trái với sự tự nguyện của một bên hoặc cả hai bên nam và nữ;
– Làm cho việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ, việc ly hôn tự nguyện không thực hiện được;
– Làm cho quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiên bộ không được duy trì, bị tan vỡ;
– Làm cho quyền tự do ly hôn không được thực hiện theo quy định của pháp luật;
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích;
– Gây ra dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến chính sách của Đảng và Nhà nước về các quyền của công dân, nhất là đối với chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Mặc dù hậu quả có xảy ra hay không cũng không có ý nghĩa trong việc xác định hành vi phạm tội, mà chỉ có ý nghĩa trong việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để quyết định hình phạt. Hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, nếu hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả thì người phạm tội sẽ phải chịu một hình phạt nặng hơn trường hợp chưa gây ra hậu quả.
d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là “cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện” trái với sự tự nguyện của bị hại, thấy trước được hậu quả và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Đối với tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện, người phạm tội bao giờ cũng mong muốn cho hậu quả xảy ra. Mục đích là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.
Xem thêm : Kết hôn trái pháp luật là gì ? Hậu quả, bị xử phạt như thế nào ?
2. Tội cưỡng ép kết hôn ly hôn, bị xử lý như thế nào ?
Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện có quy định như sau:
“Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.
Trong trường hợp hành vi vi phạm chưa nghiêm trọng đến mức cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính. Cụ thể Điểm c Khoản 2 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP có quy định
“2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;
d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;
đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.”
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội cưỡng ép kết hôn ly hôn theo Điều 181 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.