Đào nhiệm là cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác của cán bộ, công chức, viên chức gây hậu quả nghiêm trọng. Vậy, người phạm tội đào nhiệm có thể bị xử lý như thế nào ?
MỤC LỤC
1. Tội đào nhiệm, những dấu hiệu cơ bản
a. Chủ thể của tội phạm
Cũng như đối với các tội phạm về chức vụ khác, chủ thể của tội đào nhiệm cũng được coi là chủ thể đặc biệt, chỉ có cán bộ, công chức, viên chức mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Nếu người có hành vi “đào nhiệm” nhưng họ không phải là cán bộ, công chức hay viên chức thì cũng không phải là hành vi phạm tội đào nhiệm.
b. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội đào nhiệm là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức liên quan đến việc quản lý cán bộ, công chức, viên chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội; làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức; gây ra hậu quả nghiêm trọng cho chính các cơ quan, tổ chức có người đào nhiệm và cho xã hội.
c. Mặt khách quan của tội phạm
- Hành vi khách quan
Có thể nói, tội phạm này chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “từ bỏ nhiệm vụ công tác”; biểu hiện của hành vi này cũng đa dạng như: bỏ hẳn cơ quan, tổ chức, đơn vị mà mình là cán bộ, công chức, viên chức; không thực hiện nhiệm vụ được giao và những hành vi khác từ bỏ nhiệm vụ công tác của mình.
Bỏ cơ quan, tổ chức, đơn vị mà mình là cán bộ, công chức, viên chức là tự ý bỏ việc để đến làm việc ở cơ quan, tổ chức khác không được sự đồng ý của người có thẩm quyền. Thông thường trường hợp này, người phạm tội từ bỏ luôn chức danh “cán bộ, công chức” để làm một việc có thu nhập cao hơn, như: bỏ cơ quan nhà nước để làm kinh tế tư nhân; bỏ bệnh viện mà ra thành lập trung tâm khám chữa bệnh tư nhân,… Hành vi này tương tự như hành vi đào ngũ trong tội đào ngũ, tức là bỏ luôn cơ quan, tổ chức, đơn vị và không công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị mà mình là cán bộ, công chức, viên chức nữa. Loại hành vi này dễ xác định.
Tuy nhiên, trong trường hợp cán bộ, công chức đã làm đơn xin nghỉ việc hoặc đã thông báo xin nghỉ việc cho người có trách nhiệm trong cơ quan, tổ chức mà mình công tác, nhưng đã hết thời hạn giải quyết mà cơ quan, tổ chức không trả lời cho cán bộ, công chức, viên chức mà cán bộ, công chức, viên chức tự ý bỏ việc thì không coi là đào nhiệm. Nếu đã có thông báo của cơ quan, tổ chức không đồng ý cho cán bộ, công chức nghỉ việc mà cố tình bỏ việc gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì vẫn bị coi là đào nhiệm.
Nhiệm vụ công tác mà người phạm tội cố ý từ bỏ là nhiệm vụ mà theo pháp luật hoặc theo điều lệ của cơ quan, tổ chức, đơn vị giao thường xuyên hoặc đột xuất. Dù là nhiệm vụ thường xuyên hay đột xuất thì nhiệm vụ đó phải là nhiệm vụ công (công vụ). Đây là dấu hiệu rất quan trọng để xác định người từ bỏ nhiệm vụ có phải là người đào nhiệm hay không. Nếu nhiệm vụ mà người từ bỏ không phải là nhiệm vụ công thì người có hành vi từ bỏ không phải là đào nhiệm mà tùy trường hợp cụ thể, người đó chỉ vi phạm pháp luật lao động.
- Hậu quả
Hậu quả của hành vi đào nhiệm là những thiệt hại về vật chất và phi vật chất cho cơ quan, tổ chức và cho con người.
Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, đào nhiệm mà chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội phạm. Nếu gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật.
d. Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác, nhưng hậu quả nghiêm trọng gây ra người phạm tội không mong muốn, họ có thể bỏ mặc hoặc không quan tâm đến hậu quả, họ chỉ cố ý thực hiện hành vi (từ bỏ nhiệm vụ), còn hậu quả như thế nào họ không quan tâm.
2. Tội đào nhiệm, bị xử lý như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 363 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :
“Điều 363. Tội đào nhiệm
1. Người nào là cán bộ, công chức, viên chức mà cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Lôi kéo người khác đào nhiệm;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;
c) Phạm tội trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc trong trường hợp khó khăn đặc biệt khác của xã hội.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Xem thêm : Phạm tội đào nhiệm có được hưởng án treo không ?
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội đào nhiệm theo Điều 363 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.