Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật

141

Ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt buộc người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án làm trái pháp luật. Vậy, người phạm tội bị xử lý như thế nào ?

Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật
Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật

1. Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Chủ thể của tội phạm này là những người có chức vụ, quyền hạn (có thể trong các cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng cũng có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội) và có mối quan hệ quyền lực có ảnh hưởng đối với nhân viên tư pháp như cấp trên với cấp dưới, Thủ trưởng với cán bộ nhân viên thuộc cơ quan tư pháp đó…

b. Khách thể của tội phạm

Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật, trước hết trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tố tụng và thi hành án, đồng thời xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp. Người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp bao gồm: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp; viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát các cấp; chánh án, phó chánh án tòa án các cấp; thẩm phán, hội thẩm và thư ký tòa án; chấp hành viên.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

+ Về hành vi: Có hành vi sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình đế gây sức ép về tâm lý (như dọa kỷ luật, dọa sẽ cách chức hoặc dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác…) đối với nhân viên tư pháp (là nhân viên công tác trong cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án nhằm buộc họ làm những việc trái pháp luật. Ví dụ: Chánh án Tòa án cấp huyện dùng quyền hạn của mình ra lệnh cho thư ký Tòa án không được thụ lý vụ án dân sự thuộc thẩm quyền mà theo quy định thì Tòa án phải thụ lý, giải quyết.

Đặc trưng của tội này là việc sử dụng chức vụ, quyền hạn không có mục đích vì vụ lợi hoặc để trục lợi, khác hẳn với dấu hiệu mục đích vì vụ lợi hoặc để trục lợi ở các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi.

– Hành vi ép buộc nêu trên có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản.

– Nhân viên tư pháp nêu trong điều luật này là những người đang thực hiện những công việc nhất định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án như: Thư ký Tòa án và cán bộ, công chức khác công tác trong cơ quan tiền hành tố tụng và cơ quan thi hành án.

– Những việc làm trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được hiểu là những việc làm (hành vi tố tụng) không đúng với các quy định của pháp luật về tố tụng (về hình sự, dân sự, lao động, hành chính, kinh tể) và pháp luật về thi hành án..

+ Về hậu quả: Hành vi nêu trên phải gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng thì mới bị xử lý về tội này.

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ mà ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật thì ngoài tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật, còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ. Tuy nhiên, thực tế nếu có trường hợp này xảy ra, thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ, còn hành vi ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật chỉ bị coi là thủ đoạn, phương tiện để nhận hối lộ.

Nếu người có chức vụ, quyền hạn vì động cơ tư lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật thì cần phải xử lý nghiêm khắc hơn trường hợp vì động cơ chạy theo thành tích, cục bộ địa phương.

2. Phạm tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 372 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 372. Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án làm trái pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Dẫn đến ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật;

c) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm, xảo quyệt khác;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội;

b) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.