Tội hành hạ người khác theo Điều 140 Bộ luật Hình sự

227

Hành hạ người khác là hành vi của một người đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình, gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hành hạ.

Tội hành hạ người khác, bị xử lý như thế nào ?
Tội hành hạ người khác, bị xử lý như thế nào ?

1. Tội hành hạ người khác, các dấu hiệu cơ bản

a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải là người mà nạn nhân bị lệ thuộc như thầy giáo đối với học sinh, thủ trưởng đối với nhân viên…

b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Khách thể bị tội này xâm phạm là quyền được bảo hộ sức khỏe, tự do, danh dự của người bị lệ thuộc.

c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

Về phía người phạm tội

Người phạm tội có những hành vi đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình như đánh đập và những hành động bạo lực khác một cách có hệ thống, được lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc chỉ trong một vài lần như cô bảo mẫu đánh đập các cháu trong các nhà trẻ nhưng không có tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Ngoài hành vi đối xử tàn ác thì người phạm tội còn có hành vi làm nhục người lệ thuộc mình. Hành vi làm nhục của người phạm tội cũng tương đối đa dạng, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà công nghệ thông tin bùng nổ thì hành vi làm nhục người lệ thuộc mình còn có cả những hành vi tung lên mạng xã hội nói xấu, bôi nhọ, vu khống người lệ thuộc mình, làm cho người bị hại cảm thấy nhục nhã, xấu hổ, nhất là đối với các em học sinh phổ thông cơ sở và trung học cơ cở.

Thông thường, hành vi hành hạ được lặp đi lặp lại và kéo dài vài ngày, vài tuần, thậm chí hàng tháng, hàng năm. Hành vi này không chỉ gây đau đớn về thể xác mà chủ yếu gây đau khổ về tinh thần cho người bị hành hạ; nếu hành vi này có gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hành hạ, thì cũng chỉ là thương tích nhẹ chưa tới mức bị truy cứu về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Về hành vi khách quan, tội hành hạ người khác cũng tương tự như hành vi khách quan của tội bức tử, chỉ khác nhau ở chỗ, trong tội hành hạ người khác, người bị hành hạ không tự tìm đến cái chết, nên có thể nói tội hành hạ người khác là hành vi khách quan của tội bức tử.

Về phía người bị hại

Người bị hại phải là người có quan hệ lệ thuộc với người phạm tội, nếu bị hành hạ nhưng không có mối quan hệ lệ thuộc với người có hành vi hành hạ thì người có hành vi hành hạ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác, mà tùy vào hành vi cụ thể, người có hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Mối quan hệ lệ thuộc giữa người phạm tội với người bị hại là lệ thuộc về vật chất, về tinh thần. Mối quan hệ này bắt nguồn từ quan hệ công tác như: thủ trưởng với nhân viên; quan hệ thầy trò; quan hệ tôn giáo; quan hệ giữa người làm công với chủ, nhất là đối với một số nhà hàng, khách sạn tư nhân…

Đối với quan hệ hôn nhân như vợ chồng; quan hệ huyết thống như cha mẹ với các con, ông bà với các cháu; quan hệ nuôi dưỡng như cha mẹ nuôi với con nuôi, người đỡ đầu với người được đỡ đầu thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của tội phạm này, mà là đối tượng điều chỉnh của tội “ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình” (Điều 185 Bộ luật Hình sự).

Thông thường, người bị hại trong tội phạm này là trẻ em, bị hành hạ ngược đãi, nhưng không dám kêu hoặc phản ứng mà cam tâm chịu đựng, họ chỉ tố cáo khi mối quan hệ lệ thuộc không còn nữa hoặc bị người khác tố cáo hoặc báo cáo phanh phui.

d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý.

2. Tội hành hạ người khác, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 140. Tội hành hạ người khác

1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên;*

c) Đối với 02 người trở lên.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội hành hạ người khác theo Điều 140 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.