Làm chết người trong khi thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp được pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ dẫn đến chết người.

MỤC LỤC
1. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, những dấu hiệu cơ bản
a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội là người đang thi hành công vụ.
b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội này là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người. Đối tượng tác động của tội phạm là con người.
c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội này là hành vi làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ. Hành vi dùng vũ lực của chủ thể trong trường hợp này chứa đựng nguy cơ gây thiệt hại cho các lợi ích hợp pháp.
Hậu quả chết người là hành vi bắt buộc của tội phạm
d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội là lỗi có ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý.
– Lỗi cố ý gián tiếp: là trường hợp người phạm tội nhận thức được hành vi dùng vũ lực mà mình thực hiện chứa đựng nguy cơ gây thiệt hại về tính mạng đối với người khác nhưng chấp nhận hậu quả đó với mong muốn thực hiện nhiệm vụ
– Lỗi vô ý: là trường hợp khi thực hiện hành vi dùng vũ lực, người phạm tội tin rằng, hành vi của mình không gây ra hậu quả chết người hoặc do cẩu thả đã không thấy trước khả năng gây ra hậu quả chết người mặc dù có thể thấy trước và phải thấy trước.
Động cơ của người phạm tội là nhằm thực hiện công vụ. Đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Xem thêm : Trường hợp nào thì được sử dụng vũ lực khi thi hành công vụ
2. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, bị xử lý như thế nào ?
“Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ
1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
3. Phân biệt tội làm chết người trong khi thi hành công vụ với một số tội phạm khác
a. Với tội giết người ở Điều 123 Bộ luật Hình sự
Giữa hai tội này, dấu hiệu cơ bản để phân biệt là tư cách pháp lý của chủ thể tội phạm. Chỉ những người trong khi thi hành công vụ và vì nhiệm vụ được giao mà làm chết người thì mới thuộc trường hợp phạm tội quy định tại Điều 127 Bộ luật Hình sự.
Nếu lợi dụng nhiệm vụ được giao mà giết người thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp trong khi thi hành công vụ, nhưng không vì nhiệm vụ và việc làm chết người không liên quan gì đến nhiệm vụ đang thi hành thì cũng không coi là làm chết người trong khi thi hành công vụ.
Cũng không coi là làm chết người trong khi thi hành công vụ nếu như người đang có hành vi vi phạm pháp luật đã được ngăn chặn, nhưng vì lý do nào đó mà người thi hành công vụ lại làm họ chết. Ví dụ: Một nhân viên bảo vệ bắt được một người vào kho vật tư; người bảo vệ đã trói người bị tình nghi là trộm rồi dùng báng súng thúc vào người, buộc họ phải khai vào kho lấy gì; người này cố tình không khai, nên người bảo vệ bực tức đánh người này chết.
Đối với trường hợp dùng nhục hình làm chết người thì không được coi là phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
b. Với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, dấu hiệu của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội và tội làm chết người trong khi thi hành công vụ cũng có những điểm khác nhau:
Người phạm tội trong khi thi hành công vụ, trong một số trường hợp không có hành vi chống trả người có hành vi xâm phạm vì người bị hại không có hành vi tấn công mà chỉ bỏ chạy, hoặc không có hành vi nào vi phạm pháp luật, như trường hợp hành khách đi trên xe khách, đi trên tàu thuyền…; còn người phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội nhất thiết phải có hành vi chống trả lại hành vi xâm phạm của người bị hại. Như vậy, dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt giữa hai tội này là có hay không có sự chống trả và người bị hại có hay không có hành vi tấn công.
Riêng đối với trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội thì nạn nhân (người bị hại) nhất thiết phải là người phạm tội, còn đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, nạn nhân không nhất thiết phải là người phạm tội.
Trong trường hợp khi thi hành công vụ mà nạn nhân dùng vũ lực tấn công người thi hành công vụ và người thi hành công vụ làm cho người bị hại chết ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, còn các trường hợp khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ.
Cũng có ý kiến cho rằng, vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ nhưng cho người phạm tội được hưởng tình tiết phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì nếu truy cứu người phạm tội về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì người phạm tội phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại, điều này sẽ trái với quy định tại Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước gây ra. Tuy nhiên, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội và thực tiễn xét xử nhiều năm qua, các tòa án đã coi hành vi xâm phạm tính mạng người khác trong khi thi hành công vụ, nếu như người bị hại có hành vi tấn công người phạm tội thì truy cứu người phạm tội về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội và vẫn buộc cơ quan chủ quản của người phạm tội phải bồi thường cho người bị hại.
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ theo Điều 127 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



