Home Các tội phạm về chức vụ, hoạt động tư pháp Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc theo Điều...

Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc theo Điều 375 Bộ luật Hình sự

536

Làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, vụ việc của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án, người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Vậy, người phạm tội bị xử lý như thế nào ?

Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc

1. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt và được quy định cụ thể ngay tại khoản 1 của điều luật như : điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Chủ thể của tội phạm này bao gồm những người trong các cơ quan tiến hành tố tụng được phân công giải quyết vụ án, vụ việc. Ngoài ra, những người tham gia tố tụng được tiếp xúc hồ sơ vụ án, vụ việc đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

Riêng đối với những người tiến hành tố tụng khác như: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát, chánh án, phó chánh án, chánh tòa, phó chánh tòa chỉ là chủ thể của tội phạm này nếu được giao trực tiếp giải quyết vụ án, vụ việc. Nếu những người này không được giao trực tiếp giải quyết vụ án, vụ việc mà làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc thì tùy trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

b. Khách thể của tội phạm

Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc xâm phạm trực tiếp đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, vụ việc. Do hồ sơ vụ án, vụ việc bị làm sai lệch nên việc xác định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng không còn phản ánh đúng với sự thật của vụ án, vụ việc nữa, có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là hồ sơ vụ án, vụ việc.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Làm sai lệch hồ sơ vụ án là thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án, vụ việc hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, vụ việc.

Người làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc có thể thực hiện một hoặc một số hành vi sau:

Thêm các tài liệu của vụ án, vụ việc là hành vi đưa thêm vào hồ sơ vụ án, vụ việc những tài liệu, vật chứng không được thu thập theo quy định của pháp luật vào hồ sơ vụ án.

Thêm các vật chứng của vụ án, vụ việc là hành vi đưa thêm vào hồ sơ vụ án, vụ việc vật chứng không được thu thập theo quy định của pháp luật.

Lấy bớt các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi làm cho hồ sơ vụ án, vụ việc thiếu đi những tài liệu đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo quy định của pháp luật.

Lấy bớt vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi làm cho hồ sơ vụ án, vụ việc thiếu đi vật chứng đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu giữ, bảo quản theo một trình tự do pháp luật quy định.

Sửa đổi các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi làm cho tài liệu đã được thu thập theo quy định của pháp luật không còn nguyên giá trị ban đầu khi cơ quan tiến hành tố tụng thu thập.

Đánh tráo các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi thay vào hồ sơ vụ án, vụ việc các tài liệu, vật chứng khác làm cho tài liệu, vật chứng được đưa vào hồ sơ không phản ánh đúng sự thật khách quan mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập ban đầu.

Hủy hoại hoặc làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án, vụ việc là làm cho tài liệu, vật chứng mất giá trị ban đầu.

Các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, vụ việc là ngoài các thủ đoạn đã được liệt kê, người phạm tội còn có những thủ đoạn khác làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc thì cũng là hành vi phạm tội này.

Hành vi khách quan của tội phạm này, trong một số trường hợp cũng tương tự như hành vi khách quan của một số tội phạm khác quy định trong Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi xác định hành vi khách quan của tội phạm này cần phân biệt với một số tội phạm khác như:

– Khi xác định hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng cần phân biệt với trường hợp chiếm đoạt hoặc tiêu hủy toàn bộ hồ sơ vụ án, vụ việc. Nếu người phạm tội tiêu hủy toàn bộ hồ sơ vụ án, vụ việc thì tùy trường hợp mà người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu hủy tài liệu bí mật Nhà nước hoặc tiêu hủy tài liệu của cơ quan, tổ chức.

– Khi xác định hành vi sửa chữa, làm sai lệch các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vụ việc cần phân biệt với trường hợp sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn quy định trong tội “giả mạo trong công tác”. Người phạm tội giả mạo không phải là người tiến hành tố tụng trong vụ án, vụ việc, không liên quan gì đến vụ án, vụ việc cụ thế nào; những giấy tờ, tài liệu mà người phạm tội giả mạo không phải là tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vụ việc mà nó là giấy tờ, tài liệu thuộc lĩnh vực khác.

Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các thủ đoạn như: thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng

việc là tội phạm đã hoàn thành, bất kể kết quả giải quyết vụ án như thế nào đều không có ý nghĩa đến việc định tội đối với người phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc.

Nếu hành vi làm sai lệch hô sơ vụ án, vụ việc gây ra hậu quả thì tùy trường hợp mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án, vụ việc hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, vụ việc của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Nếu vì lý do nào đó mà điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc nhưng không cố ý thì tùy trường hợp mà họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chỉ bị xử lý kỷ luật.

Động cơ phạm tội cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Nếu người phạm tội vì động cơ cá nhân hoặc động cơ xấu khác thì sẽ bị phạt nặng hơn người phạm tội vì động cơ nóng vội, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án. Nếu nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ vụ án thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ, ngoài tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc.

Xem thêm : So sánh tội làm sai lệch hồ sơ vụ án và tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối

2. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 375 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 375. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc

1. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng tài liệu, vật chứng của vụ án, vụ việc hoặc bằng thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch;

c) Gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội;

b) Làm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự tự sát;

c) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc theo Điều 375 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.