Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người theo Điều 154 Bộ luật Hình sự

113

Thủ đoạn của tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người là lập những nhóm kín trên mạng xã hội để tiếp cận người có nhu cầu và bộ phận được nhắm đến chủ yếu vẫn là thận. Vậy, người phạm tội sẽ bị xử lý như thế nào ?

Tội mua bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người
Tội mua bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

1. Tội mua bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, những dấu hiệu cơ bản

a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Chủ thể thực hiện tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người không phải là chủ thể đặc biệt. Bởi vậy người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 thì người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Như vậy người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Khách thể chính của tội phạm này là sức khỏe và tính mạng của người khác bởi được xếp vào nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm con người trong Bộ luật Hình sự 2015. Trực tiếp ở đây là mô và bộ phận cơ thể của người.

“Mô” dưới góc độ khoa học được hiểu là một tập hợp gồm các tế bào chuyên hóa có cấu tạo giống nhau, đảm nhận chức năng nhất định.

“Bộ phận cơ thể người” là sự tổng hợp của nhiều yếu tố trên cơ thể người bao gồm các phần cơ thể, hay còn gọi là các khoang cơ thể, các cơ quan khác trong hệ cơ quan của con người. Đấy là những bộ phận không thể tách rời với cơ thể người nếu không xảy ra các yếu tố tác động từ bệnh lý hoặc ngoại lực.

c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

Hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là hành vi chính, bao gồm mua bán hoặc chiếm đoạt hoặc vừa chiếm đoạt vừa mua bán đều bị xử lý về tội này. Bản chất của hành vi mua bán không trực tiếp tác động lên cơ thể nạn nhân mà hoàn toàn dựa vào mục đích lợi nhuận và đối tượng của hành vi mua bán đó là mô hoặc bộ phận cơ thể người. Bản chất của hành vi chiếm đoạt thì có thể trực tiếp tác động lên cơ thể nạn nhân để chiếm đoạt, chiếm đoạt từ người khác và không phải mọi trường hợp chiếm đoạt đều vì mục đích lợi nhuận. Cần tách bạch giữa việc tác động vào cơ thể nạn nhân để chiếm đoạt bộ phận cơ thể với hành vi tác động vào nạn nhân để cố ý gây thương tích hoặc giết người bởi mục đích của hành vi này là căn cứ quan trọng để định tội danh.

Hậu quả hành vi chiếm đoạt được mô hay bộ phận cơ thể là yêu cầu bắt buộc khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này. Bởi vậy đây là tội phạm có cấu thành vật chất. Và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi mua bán hoặc chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất

d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Người thực hiện hành vi phải có lỗi cố ý khi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Tội phạm này không thể hiện dưới lỗi vô ý bởi bản chất của hành vi mua bán hoặc chiếm đoạt đã thể hiện rõ ý thức của người thực hiện hành vi.

2. Tội mua bán chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 154 Bộ luật Hình sư năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 154. Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

1. Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì mục đích thương mại;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Đối với 06 người trở lên;

d) Gây chết người;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người theo Điều 154 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.