Nợ chung, nợ riêng luôn là vấn đề gây ra nhiều tranh chấp khi ly hôn. Vậy nếu vợ chồng chưa trả hết nợ chung thì có được ly hôn không ? Sau khi ly hôn, nợ chung sẽ do ai trả ? Lợi dụng việc ly hôn trốn tránh nghĩa vụ trả nợ bị xử phạt như thế nào ?

MỤC LỤC
1. Vợ chồng chưa trả hết nợ chung, có được ly hôn ?
Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn.
Tuy nhiên trong thời gian vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, chồng không được ly hôn.
Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình cho phép nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì tòa án giải quyết việc ly hôn.
Về ly hôn theo yêu cầu của một bên (thường được gọi là đơn phương ly hôn), khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:
Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại tòa án không thành thì tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Như vậy, pháp luật về hôn nhân và gia đình không bắt buộc vợ, chồng phải trả hết các khoản nợ mới được xem xét cho ly hôn.
Sau ly hôn hai người có nghĩa vụ như nhau trong việc trả nợ, trừ trường hợp vợ chồng và chủ nợ (ngân hàng) có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình).
2. Sau khi ly hôn, ai là người phải trả nợ ngân hàng ?
Khoản 1 Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình khẳng định:
Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
Theo quy định này, nếu trước đó, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng vay tiền ngân hàng thì sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn phải thực hiện việc trả nợ trừ trường hợp có thoả thuận với bên cho vay.
Tuy nhiên, cần xác định nợ ngân hàng này là khoản nợ chung của vợ chồng hay là nợ riêng của vợ hoặc chồng. Theo Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ chồng phải cùng nhau trả nợ nếu thuộc các trường hợp sau đây:
– Do vợ chồng cùng thực hiện.
– Vì để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
– Phát sinh từ việc sử dụng, định đoạt tài sản chung…
Nếu việc vay nợ ngân hàng xuất phát từ những trường hợp được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng thì sau khi ly hôn, khi không có thoả thuận khác, vợ chồng phải cùng nhau trả nợ. Bởi việc ly hôn không làm nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng biến mất.
Ngược lại, nếu vợ chồng có thoả thuận về nợ chung hoặc có thoả thuận với bên cho vay về việc quyết định ai là người trả nợ thì sẽ thực hiện theo thoả thuận đó.
Trường hợp vợ chồng có tranh chấp về việc trả nợ cho ngân hàng thì một trong các bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc phân chia (về nguyên tắc khoản nợ chung được chia đôi, trừ trường hợp các bên và chủ nợ có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác).
Khi tòa án giải quyết tranh chấp, ngân hàng sẽ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
3. Lợi dụng việc ly hôn trốn tránh nghĩa vụ trả nợ bị xử phạt như thế nào ?
Căn cứ theo quy định tại Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:
Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;
d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;
đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này.
Theo đó, việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ được xem là hành vi ly hôn giả tạo. Hành vi ly hôn giả tạo này sẽ bị xử phạt hành chính theo điểm đ khoản 2 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, cụ thể: Phạt tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
Tuy nhiên trên thực tế việc chứng minh hành vi ly hôn giả tạo rất khó khăn, do đó trường hợp các cá nhân cho cả vợ chồng mượn nợ trong trường hợp vừa nêu, khi phát hiện họ đang thực hiện thủ tục ly hôn tại tòa án, chủ nợ phải khẩn trương có đơn yêu cầu tòa án nơi đang thụ lý vụ án ly hôn của vợ chồng vay nợ giải quyết buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ chung đã mượn.
Xem thêm : Có phải mọi khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân đều là nợ chung ?
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Vợ chồng chưa trả hết nợ chung, có được ly hôn ? Nếu bạn có vướng mắc về thủ tục ly hôn – tranh chấp tài sản – giành quyền nuôi con, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn.



