Người bị tâm thần giết người, có bị đi tù không ?

435

Thời gian vừa qua, số vụ việc, vụ án do người mắc bệnh tâm thần gây ra với các hành vi như cố ý gây thương tích, gây rối an ninh trật tự, đặc biệt là hành vi giết người có những diễn biến phức tạp. Vậy, theo quy định của pháp luật, người bị tâm thần giết người, có bị đi tù không ?

Người bị tâm thần giết người, có bị đi tù không ?
Người bị tâm thần giết người, có bị đi tù không ?

1. Tội giết người, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

“Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Tội giết người, những dấu hiệu cơ bản

a. Khách thể của tội phạm 

Khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Con người sống trong xã hội có quyền tự nhiên là quyền sống đòi hỏi các chủ thể khác phải tôn trọng.

Đối tượng của tội giết người là thân thể con người đang sống mà hành vi phạm tội tác động vào để xâm phạm đến quyền sống của họ. Thời điểm được coi là sống của một người tính từ khi người đó được sinh ra, độc lập với cơ thể mẹ và chấm dứt khi có cái chết về mặt sinh học.

b. Mặt khách quan của tội phạm

Về hành vi làm chết người

– Hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm, dùng súng bắn, dùng cây đánh… tác động vào thân thể nạn nhân nhằm tước bỏ tính mạng người đó.

– Không hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã không thực hiện nghĩa vụ phải làm (phải hành động) để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác… nhằm giết người khác. Thông thường tội phạm được thực hiện trong trường hợp (bằng cách) lợi dụng nghề nghiệp.

Có hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí khác, cụ thể là:

– Không sử dụng vũ khí hoặc hung khí: Trường hợp này người phạm tội chủ yếu sử dụng sức mạnh cơ thể của mình tác động lên cơ thể của nạn nhân hoặc đẩy nạn nhân vào điều kiện không thể sống được như đấm, đá, bóp cổ… hoặc dùng các thủ đoạn khác như đẩy xuống sông …

– Có sử dụng vũ khí, hung khí hoặc các tác nhân gây chết người khác. Trường hợp này người phạm tội có sử dụng các công cụ phạm tội như: Súng, lựu đạn, bom, mìn, dao, búa, gậy gộc,… hoặc các tác nhân gây chết khác như thuốc độc, điện …

Hành vi giết người được thể hiện dưới hình thức dùng vũ lực hoặc không dùng vũ lực, cụ thể là:

– Dùng vũ lực: Được hiểu là trường hợp người phạm tội đã sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động lên thân thể nạn nhân. Việc dùng vũ lực có thể được thể hiện bằng các hình thức sau: Thực hiện trực tiếp như dùng tay, chân để đánh đá, bóp cổ, … Thực hiện gián tiếp thông qua phương tiện vật chất (có công cụ, phương tiện phạm tội) như: Dùng dao để đâm, chém, dùng súng bắn…

– Không dùng vũ lực: Nghĩa là dùng các thủ đoạn khác mà không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể nạn nhân như: Dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, gài bẫy điện để nạn nhân vướng vào…

Về hậu quả

Các hành vi nêu trên thông thường gây hậu quả trực tiếp là làm người khác chết (tức là chấm dứt sự sống của người khác). Tuy nhiên chỉ cần hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có mục đích làm chấm dứt sự sống của người khác (hay làm cho người khác chết) thì được coi là cấu thành tội giết người cho dù hậu quả chết người có xảy ra hay không.

Tuy nhiên một số trường hợp việc dùng vũ lực không gây ra hậu quả trực tiếp làm nạn nhân chết mà chỉ có tác dụng đẩy nạn nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và tử vong (như xô nạn nhân xuống sông và bỏ mặc cho đến chết hoặc đạp nạn nhân ra ngoài đường đang có nhiều xe ôtô chạy dẫn đến bị xe cán chết…) vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nếu chứng minh được người thực hiện hành vi đó có mục đích giết người. Đây có thể xem là hậu quả gián tiếp.

Thông thường đối với trường hợp giết người với lỗi cố ý gián tiếp thì hậu quả đế đâu xử lý đế đó (nếu có hậu quả chết người thì xử ý tội giết người, nếu nạn nhân không chết thì xử lý tội cố ý gây thương tích).

Mặt khách quan của tội giết người còn đòi hỏi mối quan hệ nhân quả giữa hành vi giết người và hậu quả xảy ra.

c. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (được thể hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Giết người với lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp một người nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức hậu quả chết người sẽ xảy ra và mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra.

Ví dụ : A dùng dao nhằm ngực bên trái của B đâm hậu quả làm B chết. A đã nhận thức hành vi dùng dao đâm vào ngực trái B là nguy hiểm đến tính mạng của B, nhận thức được hậu quả B chết sẽ xảy ra và hành vi đó thể hiện ý thức mong muốn cho B chết.

Giết người với lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp một người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Ví dụ: trong khi xảy ra xô xát tại quán bia, A dùng dao đâm bừa về phía B và đồng bọn, Nhát dao trúng tim B chết. Đây là trường hợp bỏ mặc cho hậu quả xảy ra khác với trường hợp A nhằm ngực B để đâm (lỗi cố ý trực tiếp).

d. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể này bất kỳ là người nào từ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Từ 16 tuổi trở lên: Chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Xem thêm : Phạm tội giết người, có thể bị tử hình trong trường hợp nào ?

3. Người bị tâm thần giết người, có bị đi tù không ?

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện…

Như vậy, trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra với người có năng lực trách nhiệm hình sự.

Và tương ứng với quy định này, Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như sau:

“Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Như vậy, có 03 trường hợp có thể xảy ra khi một người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội:

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần làm mất hoàn toàn khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà họ đã thực hiện.

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm thần nhưng vẫn có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì người bị tâm thần vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà họ đã thực hiện.

Và vì thế, để xác định chính xác người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có mắc bệnh tâm thần hay không, có mất khả năng nhận thức và điều khiến hành vi hay không, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 yêu cầu đây là một trong những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định.

Bản kết luận giám định là căn cứ để các cơ quan tố tụng xem xét trách nhiệm hình sự của người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội.

Người thực hiện hành vi phạm tội chỉ được miễn trách nhiệm hình sự nếu tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người đó có kết luận giám định pháp y tâm thần của Hội đồng giám định pháp y về tâm thần kết luận họ đang mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Lúc này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

Họ vẫn có khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp kết luận của hội đồng giám định y khoa kết luận rằng họ chỉ bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự chứ không phải mất năng lực trách nhiệm hình sự.

4. Gia đình người mắc bệnh tâm thần giết người có phải bồi thường cho gia đình người bị hại hay không ?

Theo Điều 57 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như sau:

“1. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;

b) Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;

c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;

d) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.”

Tại Khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trường hợp phát sinh trường hợp bồi thường thiệt hại như sau

“Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”

Như vậy, gia đình người bị bệnh tâm thần (người này đã được Tòa án ra quyết định là người mất năng lực hành vi dân sự) hoặc người giám hộ có trách nhiệm bồi thường cho nạn nhân bằng tài sản của người bệnh tâm thần hoặc tài sản của mình.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Người bị tâm thần giết người, có bị đi tù không ? Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.