Tỷ lệ tổn thương cơ thể là một trong những yếu tố quan trọng trong việc giải quyết nhiều vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án về xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Nó là căn cứ trực tiếp để định tội danh và định khung hình phạt đối với người phạm tội, đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan khác.

MỤC LỤC
1. Thời điểm giám định tỷ lệ thương tổn cơ thể
Theo quy định tại Điều 205, 207 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì thời điểm có thể trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tật bao gồm:
– Khi đương sự hoặc người đại diện của họ đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ
– Khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết phải tiến hành trưng cầu giám định. Theo đó, có một số tội cụ thể cần phải tiến hành trưng cầu giám định như sau:
2. Giám định thương tật ở đâu ?
Theo quy định tại Điều 12 Luật Giám định tư pháp năm 2012 thì cá nhân khi bị người khác gây thương tích, bị ảnh hưởng về sức khỏe có thể điều trị tại các cơ sở y tế.
Tuy nhiên kết luận giám định tỷ lệ thương tật chỉ được công nhận khi thực hiện việc giám định tại các tổ chức giám định tư pháp công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập như sau:
– Trong lĩnh vực pháp y: Viện pháp y của Bộ Y tế, Viện pháp y quân đội thuộc Bộ quốc phòng, Trung tâm giám định pháp y cấp tỉnh hoặc của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an.
– Viện pháp y tâm thần trung ương thuộc Bộ Y Tế hoặc Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thuộc Bộ Y Tế
– Viện khoa học hình sự thuộc Bộ Công an, Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh.
Như vậy, khi một cá nhân bị xâm phạm thân thể do hành vi của người khác gây nên thì khi muốn xác định tỷ lệ thương tật cần phải đến một trong những tổ chức nêu trên để tiến hành giám định.
3. Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể trong vụ án hình sự
Thông tư 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (TTCT) sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần (có hiệu lực từ ngày 01/11/2019). Cụ thể các tổn thương bao gồm:
– Tổn thương cơ thể do tổn thương xương sọ và hệ thần kinh
– Tổn thương cơ thể do tổn thương hệ tim mạch
– Tổn thương cơ thể do tổn thương hệ hô hấp
– Tổn thương cơ thể do tổn thương hệ tiêu hóa
– Tổn thương cơ thể do tổn thương hệ tiết niệu – sinh dục – sản khoa
– Tổn thương cơ thể do tổn thương hệ nội tiết
– Tổn thương cơ thể do tổn thương cơ – xương khớp
– Tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm
– Tổn thương cơ thể do tổn thương bỏng
– Tổn thương cơ thể do tổn thương cơ quan thị giác
– Tổn thương cơ thể do tổn thương răng – hàm – mặt
– Tổn thương cơ thể do tổn thương tai – mũi – họng
Việc xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể (TTCT) được tính theo phương pháp cộng dưới đây.
Tổng tỷ lệ % tổn thương = T1 + T2 + T3 +…+ Tn; trong đó:
T1: Được xác định là tỷ lệ % TTCT của TTCT thứ nhất.
T2: Tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ hai. Tỷ lệ tổn thương cơ thể thứ hai được tính T2= (100 – T1) x tỷ lệ % TTCT thứ 2/100.
T3: Tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ ba. Tỷ lệ tổn thương cơ thể thứ ba được tính T3= (100 – T1 – T2) x tỷ lệ % TTCT thứ 3/100.
Tn: Tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ n. Tỷ lệ tổn thương cơ thể thứ n được tính Tn= {100 – T1 – T2 – T3 – … – T(n-1)} x tỷ lệ % TTCT thứ n/100.
Lưu ý:
– Tổng tỷ lệ % TTCT sau khi được làm tròn số là kết quả cuối cùng.
– Giám định để xác định tỷ lệ % TTCT phải được thực hiện trên người cần giám định.
– Giám định để xác định tỷ lệ % TTCT được thực hiện trên hồ sơ trong trường hợp người cần giám định đã bị chết hoặc bị mất tích hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Khi giám định trên hồ sơ, tỷ lệ % TTCT được xác định ở mức thấp nhất của khung tỷ lệ tương ứng với các tỷ lệ % TTCT.
– Tỷ lệ % TTCT được xác định tại thời điểm giám định.
4. Nguyên tắc xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể
– Tổng tỷ lệ % TTCT của một người phải nhỏ hơn 100%.
– Mỗi bộ phận cơ thể bị tổn thương chỉ được tính tỷ lệ % TTCT một lần. Trường hợp bộ phận này bị tổn thương nhưng gây biến chứng, di chứng sang bộ phận thứ hai đã được xác định thì tính thêm tỷ lệ % TTCT do biến chứng, di chứng tổn thương ở bộ phận thứ hai.
– Nếu nhiều TTCT là triệu chứng thuộc một hội chứng hoặc thuộc một bệnh đã được ghi trong các Bảng tỷ lệ % TTCT thì tỷ lệ % TTCT được xác định theo hội chứng hoặc theo bệnh đó.
– Khi tính tỷ lệ % TTCT chỉ lấy đến hai chữ số hàng thập phân, ở kết quả cuối cùng thì làm tròn để có tổng tỷ lệ % TTCT là số nguyên (nếu số hàng thập phân bằng hoặc lớn hơn 0,5 thì làm tròn số thành 01 đơn vị).
– Khi tính tỷ lệ % TTCT của một bộ phận cơ thể có tính chất đối xứng, hiệp đồng chức năng mà một bên bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đã được xác định, thì tính cả tỷ lệ % TTCT đối với bộ phận bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đó.
Ví dụ: Một người đã bị cắt thận phải trước đó, nếu lần này bị chấn thương phải cắt thận trái thì tỷ lệ % TTCT được tính là mất cả hai thận.
– Khi giám định, căn cứ tổn thương thực tế và mức độ ảnh hưởng của tổn thương đến cuộc sống, nghề nghiệp của người cần giám định, giám định viên đánh giá, xác định tỷ lệ % TTCT trong khung tỷ lệ tương ứng với Bảng tỷ lệ % TTCT.
– Đối với các bộ phận cơ thể đã bị mất chức năng, nay bị tổn thương thì tỷ lệ % TTCT được tính bằng 30% tỷ lệ % TTCT của bộ phận đó.
– Trường hợp trên cùng một người cần giám định mà vừa phải giám định pháp y lại vừa phải giám định pháp y tâm thần (theo quyết định trưng cầu/yêu cầu), thì tổ chức giám định thực hiện giám định sau tổng hợp (cộng) tỷ lệ % TTCT của người cần giám định theo phương pháp xác định tỷ lệ % TTCT.
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Cách xác định tỷ lệ thương tật trong vụ án hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



