Không đăng ký kết hôn, sống chung với nhau như vợ chồng có vi phạm pháp luật

220

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Vậy trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và có tranh chấp xảy ra hoặc các bên có con chung, tài sản chung,… thì giải quyết như thế nào ?

Sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là gì ?

– Trong xã hội hiện nay, tồn tại nhiều cách hiểu về “nam nữ chung sống như vợ chồng”. Theo cách hiểu chung nhất nam nữ chung sống như vợ chồng là hành vi của hai bên nam nữ, tuy không phải là vợ chồng nhưng đã ăn ở với nhau và coi nhau là vợ chồng. Họ liên kết với nhau trên cơ sở tự nguyện và không đăng ký kết hôn.

– Việc kết hôn chỉ có giá trị pháp lý khi hai bên nam nữ tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn. Nam nữ chung sống như vợ chồng (một số trường hợp có tổ chức đám cưới) mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì sẽ không được công nhận là vợ chồng trước pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, các bên chung sống vẫn coi nhau là vợ chồng và mọi người xung quanh vẫn cho rằng họ là vợ chồng của nhau.

2. Chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn xuất phát từ nguyên nhân nào ?

– Tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Xu hướng toàn cầu hóa tác động đến hàng loạt các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… Song song với sự tự do hóa thương mại thì tự do văn hóa cũng được mở rộng và có tác động tới Việt Nam, trong đó có hôn nhân, gia đình truyền thống. Bên cạnh đó, tốc độ phát triển nhanh của công nghệ thông tin, mạng xã hội với hàng trăm các ứng dụng nhu cầu, kể cả nhu cầu làm quen, tìm bạn, tìm người yêu qua mạng… đã tạo điều kiện cho nam nữ tiếp cận nhau nhanh và dễ dàng hơn góp phần đẩy nhanh tình trạng chung sống như vợ chồng.

– Yếu tố chủ quan, khách quan của hai bên nam, nữ.

Việc chung sống như vợ chồng có thể diễn ra phụ thuộc vào ý muốn của hai bên: giữa những người phụ nữ và đàn ông đã trải qua một cuộc hôn nhân trước đó. Họ không thấy sự cần thiết của việc đăng ký kết hôn và tự nguyện chung sống hoặc có những trường hợp đủ điều kiện kết hôn, nhưng không đăng ký (họ quan tâm đến lễ cưới theo tập quán hơn là theo đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền…)

Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính
Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính

Việc không thể đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền giữa những người cùng giới tính hoặc giữa người chuyển giới với người khác, giữa những người chuyển giới bởi vi phạm điều kiện về giới tính.

– Ảnh hưởng của phong tục tập quán, thủ tục lạc hậu.

Hiện nay đời sống hôn nhân và gia đình của phần lớn người dân tộc thiểu số vẫn bị chi phối sâu sắc bởi phong tục tập quán. Họ chưa hiểu rõ ý nghĩa của việc đăng ký kết hôn đối với quan hệ vợ chồng. Việc kết hôn của người dân tộc thiểu số chủ yếu theo phong tục, tập quán (có sự chứng kiến của gia đình, cộng đồng và được cộng đồng thừa nhận). Vì vậy, tình trạng chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn còn khá phổ biến ở một số địa phương có đồng bào dân tộc ít người, vùng xa.

3. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có trái pháp luật ?

Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có bất kỳ quy định nào nghiêm cấm nam, nữ chung sống như vợ chồng.

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nghiêm cấm các hành vi chung sống như vợ chồng sau đây:

– Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

– Chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

4. Không đăng ký kết hôn, có cần ra Tòa để ly hôn không ?

Nam nữ chung sống như vợ chồng (một số trường hợp có tổ chức đám cưới) mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì sẽ không được công nhận là vợ chồng trước pháp luật.

Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về thụ lý đơn yêu cầu ly hôn như sau :

Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn, tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 điều 14 của luật này.

Do đó, khi gửi đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, nên không giải quyết ly hôn tại tòa án.

5. Hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Điều 14, 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau :

– Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

– Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

– Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết như sau :

+ Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định tại Mục I chương V Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

+ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự  và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Xem thêm : Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự

Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn về thủ tục ly hôn – tranh chấp tài sản – giành quyền nuôi con sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.