Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng là hành vi của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

MỤC LỤC
1. Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng, những dấu hiệu cơ bản
a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ một chồng tuy không phải là chủ thể đặc biệt nhưng có một đặc điểm khác với chủ thể của các tội phạm khác ở chỗ: người phạm tội phải là người đang có vợ hoặc có chồng hoặc một trong hai bên phải là người đang có vợ hoặc đang có chồng.
b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội vi phạm chế độ một vợ một chồng chính là chế độ một vợ, một chồng, là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật Hôn nhân và gia đình quy định.
c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi khách quan
Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ một chồng có thể có một trong các hành vi sau:
Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.
Người đang có vợ hoặc có chồng quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết; xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết; vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng đã được tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.
Hôn nhân thực tế là hôn nhân có đủ điều kiện kết hôn về nội dung, chỉ vi phạm điều kiện về hình thức là không có đăng ký kết hôn. Các điều kiện về nội dung là: có tổ chức lễ cưới khi về sống chung với nhau; việc chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận; việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Tuy nhiên, nếu những người đã sống chung với nhau như vợ chồng (hôn nhân thực tế) trước ngày 03-01-1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn, còn đối với những người chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 trở đi thì phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm tính đến ngày 01- 01-2003, nếu sau thời hạn này mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng; kể từ ngày 01-01-2001 trở đi, nếu nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được công nhận là vợ chồng.
Xem thêm : Không đăng ký kết hôn, có cần ra Tòa ly hôn ?
Việc chấm dứt quan hệ hôn nhân có thể do nhiều nguyên nhân như: một trong hai người chết (kể cả trường hợp chết về mặt pháp lý do tòa án quyết định); đã ly hôn do tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng mà bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; đã bị tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu quan hệ hôn nhân đang tồn tại là quan hệ hôn nhân trái pháp luật mà một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Kết hôn với người khác trái pháp luật là hành vi lừa dối các cơ quan nhà nước để đăng ký kết hôn hoặc tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán; người phạm tội có thể lừa dối đối với người mà mình kết hôn như: nói dối là mình chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ hoặc có chồng nhưng nói dối là đã ly hôn hoặc đã chết làm cho người mà mình định kết hôn tin mà đồng ý kết hôn. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp cả hai người (nam và nữ) đều biết nhau đã có vợ hoặc có chồng nhưng vẫn cố tình lừa dối cơ quan nhà nước để được kết hôn trái pháp luật.
Ví dụ: Nguyễn Như B đang có vợ hợp pháp và Đào Kim A đang có chồng hợp pháp, nhưng cả B và A bỏ nhà rủ nhau vào Lâm Đồng chung sống, rồi dùng giấy tờ giả mạo để lừa dối ủy ban nhân dân xã đăng ký kết hôn. Do không thẩm tra nên ủy ban nhân dân xã đã đăng ký kết hôn cho Nguyễn Như B và Đào Kim A.
Nếu một trong hai người (nam hoặc nữ) bị lừa dối mà đồng ý kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có hành vi gian dối thì chỉ người có thủ đoạn gian dối mới bị coi là vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn người bị lừa dối không phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Ví dụ: Trần Trọng K là công nhân thuộc Công ty bảo dưỡng đường bộ NH. K đã có vợ hợp pháp ở quê và hai con. Do điều kiện công việc nên K thường xuyên phải sống xa nhà. Năm 2018, K đã lừa dối để kết hôn với chị Trần Thị D và sinh được một con trai, đơn vị phát hiện đã xử lý hành chính và tòa án nhân dân huyện đã hủy hôn nhân trái pháp luật giữa K với chị D. Năm 2019, K lại lừa dối chị Hoàng Thị O và chính quyền địa phương nơi mình lao động để ủy ban nhân dân xã lại đăng ký kết hôn cho K và O. Trong trường hợp này, chỉ có K là người có hành vi phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn chị D và chị O là người bị K lừa dối, không phải là hành vi phạm tội.
Hành vi sống chung như vợ chồng với người khác là hành vi của nam và nữ không có đăng ký kết hôn nhưng về sống chung với nhau như vợ chồng, có thể có tổ chức lễ cưới hoặc không tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; gia đình có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; họ sống với nhau như vợ chồng một cách công khai, mọi người xung quanh đều biết và cho rằng họ là vợ chồng.
Sẽ không phải là sống chung với nhau như vợ chồng nếu như nam và nữ lén lút quan hệ tình dục với nhau theo quan niệm mà xã hội gọi là “ngoại tình”.
Xem thêm : Bằng chứng ngoại tình thế nào thì được chấp nhận yêu cầu ly hôn ?
Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ là trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng biết rõ người khác đã có chồng, đã có vợ nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này.
Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng là người chưa kết hôn lần nào hoặc đã kết hôn nhưng đã ly hôn hoặc một trong hai người (vợ hoặc chồng) đã chết hoặc được tòa án tuyên bố là đã chết. Điều luật quy định người chưa có vợ, chưa có chồng, nhưng bao gồm cả những người đã có vợ hoặc đã có chồng nhưng vợ hoặc chồng đã chết, đã ly hôn hoặc đã bị tòa án hủy hôn nhân trái pháp luật. Đúng ra, nhà làm luật phải quy định: người đang chưa có vợ hoặc đang chưa có chồng, thì chuẩn xác hơn và không thể hiểu khác được.
Khi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đã có chồng hoặc có vợ, người phạm tội phải biết rõ người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là người đang có chồng hoặc đang có vợ. Nếu không biết rõ thì không phải hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Thông thường, trường hợp này người đang chưa có vợ, đang chưa có chồng (nhất là người đang chưa có chồng) bị người đang có vợ hoặc đang có chồng lừa dối nên mới kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này.
Biết rõ là biết một cách chắc chắn, không có nghi ngờ gì về người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là họ đang có chồng hoặc đang có vợ, có thể do chính người đang có chồng hoặc đang có vợ nói cho biết hoặc thông qua người khác nói cho biết, hoặc tự tìm hiểu qua nhiều nguồn nên biết.
Các hành vi trên chỉ cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng khi người có hành vi đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm hoặc làm cho quan hệ hôn nhân của một trong hai bên dẫn đến ly hôn.
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần vi phạm chế độ một vợ, một chồng, đã bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng bằng một trong những hình thức xử phạt theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính (01 năm), lại có hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì không cấu thành tội phạm này.
Đã có quyết định của tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trải với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, là trường hợp tòa án đã có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà hai người vẫn không chấp hành, vẫn duy trì quan hệ vợ chồng, bao gồm cả trường hợp tòa án quyết định bằng bản án dân sự hoặc bằng bản án hình sự.
Trường hợp đã có sự giáo dục, nhắc nhở của cơ quan có thẩm quyền hoặc đã bị xử phạt hành chính nhưng vẫn cố tình không chấp hành thì tùy trường hợp còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm “tội không chấp hành án” theo quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự.
+ Hậu quả
Hậu quả của tội phạm này là làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn.
Ngoài hậu quả “làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn” thì còn hậu quả “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát” quy định tại khoản 2 của điều luật.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, việc nhà làm luật bỏ tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng là không cần thiết, vì đối với tội phạm này, nhiều trường hợp chưa gây ra hậu quả làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát, nhưng do hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng mà làm cho người vợ hoặc người chồng hợp pháp phải bỏ việc, phải tốn kém tiền của để lo giải quyết hàn gắn quan hệ vợ chồng hoặc do quá uất ức với hành vi vi phạm của người chồng mà sinh ra bệnh tật, con cái phải nheo nhóc bỏ học đi lang thang, cờ bạc, nghiện ma túy…, nếu không xử lý thì dư luận không đồng tình.
Do điều luật đã cụ thể hậu quả “nghiêm trọng” của hành vi “vi phạm chế độ một vợ, một chồng”, nên đối với những hậu quả khác như dẫn đến hành vi giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản… thì người có hành vi này phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội này lại bắt nguồn từ hành vi “vi phạm chế độ một vợ, một chồng”.
d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, thấy trước được hậu quả nghiêm trọng nhất định xảy ra hoặc có thể xảy ra, mong muốn cho hậu quả đó xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, người phạm tội thường bỏ mặc cho hậu quả nghiêm trọng xảy ra, miễn là được chung sống như vợ chồng với nhau.
2. Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng, bị xử lý như thế nào ?
Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự về “Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng”
“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Trong trường hợp hành vi vi phạm chưa nghiêm trọng đến mức cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020 có quy định
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.”
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



