Phạm tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không ?

474

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Vậy, người phạm tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không ? Điều kiện như thế nào ?

Phạm tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không ?
Phạm tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không ?

1. Những dấu hiệu cơ bản của tội trộm cắp tài sản

a. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi (Khoản 3 và Khoản 4) có năng lực trách nhiệm hình sự.

b. Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Khách thể của tội trộm cắp tài sản cũng tương tự như tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

Tuy nhiên, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người; gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

c. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan

Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: chen lấn, xô đẩy nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết.

Tuy nhiên, không phải trường hợp phạm tội nào cũng giống nhau, thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều trường hợp dễ nhầm lẫn với các tội phạm khác, có khi xác định hành vi đó là tội trộm cắp, nhưng lại không phải, ngược lại có trường hợp được xác định không phải là hành vi trộm cắp nhưng lại đúng là trộm cắp. Đối với các trường hợp này thường nhầm với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản. Để xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạm khác gần kề, chúng ta nghiên cứu một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất đặc thù sau:

– Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản, khi có điều kiện mới lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Ví dụ: Bùi Văn D đóng giả bộ đội vào ngủ nhờ nhà ông Đinh Văn T, ông T tưởng D là bộ đội thật nên cho ngủ. Đến 12 giờ đêm, D thức giấc thấy mọi người trong nhà đã ngủ say, D lục tủ lấy được 500.000.000 đồng và 10 lượng vàng; sau đó D lấy luôn cả chiếc xe đạp của gia đình ông T, dắt ra khỏi nhà để tẩu thoát, nhưng D đạp xe ra tới cổng làng thì bị tổ tuần tra bắt quả tang cùng với tang vật đã trộm cắp ở nhà ông T.

– Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người, chen lấn, xô đẩy để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ví dụ: Nguyễn Văn N và một số tên khác thường đến các bến tàu, bến xe để hoạt động phạm tội. Ngày 19-3-2019, N và đồng bọn đến nhà ga thành phố H, thấy cửa bán vé tàu Thống Nhất có nhiều người xếp hàng mua vé đang chen lấn, xô đẩy; N bàn với đồng bọn giả vờ là hành khách mua vé tàu vào chen lấn, xô đẩy rồi lén giật đồng hồ của anh Hoàng Công Kh rơi xuống đất để đồng bọn nhặt. Do mải chen lấn, xô đẩy nên anh Kh không biết ai giật đồng hồ của mình. Nếu chỉ căn cứ vào hành vi thì trường hợp phạm tội này sẽ được xác định là cướp giật tài sản, nhưng căn cứ vào thủ đoạn phạm tội và hoàn cảnh thực tế lúc xảy phạm thì lại là hành vi trộm cắp tài sản vì N và đồng phạm không có ý thức công khai chiếm đoạt đồng hồ của anh Kh, mà chỉ lợi dụng sự chen lấn, xô đẩy để lén giật đồng hồ và chúng tin rằng anh Kh không thể phát hiện được; thực tế anh Kh cũng không biết ai đã giật đồng hồ của mình.

– Người phạm tội lợi dụng chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không có mặt ở nơi để tài sản hoặc tài sản không có người trực tiếp quản lý (tài sản ở nơi công cộng), nên đã chiếm đoạt. Ví dụ: Trịnh Hoài Đ, Vũ Công C và Đặng Quang P đã bàn với nhau cải trang là nhân viên của công ty cung ứng điện, dùng các dụng cụ cách điện, trong thời gian 20 ngày chúng đã tháo được 200 chiếc công tơ (đồng hồ đo điện). Trường hợp phạm tội này, nếu chỉ căn cứ vào hình thức chiếm đoạt thì có thể xác định hành vi của Đ, C và P là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì lúc thực hiện tội phạm chúng không hề che giấu hành vi của mình, nhiều người nhìn thấy chúng tháo công tơ nhưng không ai nghi ngờ vì cứ tưởng chúng là nhân viên của công ty điện lực. Tuy nhiên, tính chất lén lút của hành vi lại thể hiện ở chỗ chúng che giấu thân phận thật của mình với mọi người xung quanh và người quản lý tài sản.

+ Hậu quả

Tương tự như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, hậu quả của tội trộm cắp tài sản cũng là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là trị giá tài sản bị chiếm đoạt.

d. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Tội trộm cắp tài sản được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là muốn chiếm đoạt được tài sản.

Xem thêm : Trộm cắp tài sản có giá trị tối thiểu bao nhiêu tiền thì bị xử lý hình sự ?

2. Tội trộm cắp tài sản, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Đối với cá nhân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu, không gây ra hậu quả nghiêm trọng về giá trị tài sản (cụ thể là dưới 2.000.000 đồng) và chưa bị kết án về các tội về chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính.

Cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.

3. Tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không ?

Tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về điều kiện hưởng án treo như sau:

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Nội dung này cũng được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, theo đó, người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện:

– Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

– Có nhân thân tốt:

+ Người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân;

+ Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích… nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới là ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

– Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như: Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;… và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Nếu có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên.

– Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định (nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên);

– Người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Đồng thời, không thuộc các trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018 như:

– Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

– Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

– Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo…

Đối chiếu với mức phạt Tội trộm cắp tài sản nêu trên, người phạm tội chỉ được hưởng án treo khi bị xử phạt tù với mức phạt tù không quá 03 năm, đồng thời đáp ứng các điều kiện hưởng án treo khác theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 và hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết 02/2018.

4. Bản án về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo

Nội dung vụ án :

Vào ngày 11/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn V; sinh năm 2002, trú tại: Thôn 3, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước  và diễn biến tại phiên tòa thể hiện: Để có tiền trả tiền mua điện thoại góp và tiêu xài cá nhân, vào ngày 13 tháng 6 năm 2022, Huỳnh Văn V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Huỳnh Văn Hành một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 màu đen, có gắn ốp lưng nhựa màu xanh, bên trong có 02 sim trị giá 6.055.000 đồng (Sáu triệu không trăm năm mươi lăm nghìn đồng) và số tiền 104.000 đồng có trong ốp lưng điện thoại. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 6.159.000 đồng (Sáu triệu, một trăm năm mươi chín nghìn đồng).

Nhận định và bản án :

Sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử kết án và tuyên phạt bị cáo 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/11/2022) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Phạm tội trộm cắp tài sản có được hưởng án treo không. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.