Chồng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hai vợ chồng đã xây nhà trên mảnh đất đó. Nay người chồng chết, người vợ muốn bán đất đứng tên chồng thì cần phải làm những thủ tục gì?

Có hai trường hợp xảy ra. Mảnh đất người chồng đứng tên có trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ có cách giải quyết khác nhau.
MỤC LỤC
1. Quyền sử dụng đất của người chồng được xác lập trước thời kỳ hôn nhân
Trong trường hợp này, quyền sử dụng mảnh đất này thuộc sở hữu riêng của người chồng. Do đó, khi chồng qua đời mà không để lại di chúc thì mảnh đất và ngôi nhà này sẽ được chia theo pháp luật, tức chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết (theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
2. Quyền sử dụng đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân
Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng…
Như vậy, trường hợp quyền sử dụng đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân (không thuộc trường hợp tặng cho riêng hay thừa kế riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng) thì quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng.
Khi người chồng qua đời mà không để lại di chúc thì một nửa giá trị mảnh đất và căn nhà này sẽ thuộc về người vợ, còn một nửa còn lại sẽ thuộc về người chồng. Phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chồng sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, tức chia cho bạn, bố và mẹ của người chồng.
Như vậy, ở cả hai trường hợp trên, người vợ đều phải thực hiện khai nhận di sản thừa kế của người chồng. Sau đó, người vợ có thể thỏa thuận với bố và mẹ chồng – những người đồng thừa kế về việc người vợ sẽ nhận toàn bộ mảnh đất và ngôi nhà này đồng thời người vợ sẽ thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản mà bố, mẹ chồng được hưởng. Thỏa thuận về sự phân chia này phải được lập thành văn bản được công chứng. Còn trong trường hợp các đồng thừa kế có tranh chấp với nhau về việc phân chia di sản thừa kế thì có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Sau khi người vợ thực hiện xong việc khai nhận di sản thừa kế thì người vợ thực hiện việc sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người vợ được công nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này và quyền sở hữu nhà thì người vợ mới có thể thực hiện việc chuyển nhượng căn nhà cho người khác.
Về thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, người vợ chuẩn bị một bộ hồ sơ gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện. Hồ sơ gồm:
– Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
– Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;
– Văn bản khai nhận di sản thừa kế (có công chứng).
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Sau khi chồng chết, vợ có được quyền bán đất đứng tên chồng không ? Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.



