So sánh tội đào ngũ và tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu

147

Người phạm tội đào ngũ theo Điều 401 và tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu theo Điều 401 Bộ luật Hình sự năm 2015 thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý.

Tội đào ngũ
Tội đào ngũ
Tiêu chí Tội đào ngũ Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu
Khái niệm Tội đào ngũ là hành vi tự ý rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời chiến, làm suy yếu kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là hành vi tự ý bỏ vị trí chiến đấu đã được phân công mà không được phép hoặc không thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở vị trí được phân công, ảnh hưởng trực tiếp đến kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm là tất cả những người được quy định tại Điều 392 Bộ luật hình sự, bao gồm :

–       Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng.

–       Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện.

–       Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

–       Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.

Khách thể của tội phạm Tội đào ngũ xâm phạm kỷ luật, chế độ nghĩa vụ quân sự, chế độ phục vụ trong quân đội và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tội bỏ vị trí chiến đấu xâm phạm sức mạnh chiến đấu, ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ, xâm phạm kỷ luật quân đội trong chiến đấu và ở chiến trường của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Mặt khách quan của tội phạm Điều 402 Bộ luật hình sự quy định đào ngũ là hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trong thời chiến hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.

Hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội có thể ở dạng hành động (bỏ đi khỏi đơn vị), có thể ở dạng không hành động (không đến đơn vị để thực hiện nhiệm vụ). Hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ chỉ cấu thành tội phạm khi thuộc một trong ba trường hợp sau đây:

– Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

– Gây hậu quả nghiêm trọng;

– Trong thời chiến.

Là loại tội kéo dài, tội đào ngũ hoàn thành từ thời điểm người phạm tội rời bỏ hàng ngũ quân đội và kết thúc khi bị bắt giữ hoặc đầu thú.

Mặt khách quan của tội phạm bao gồm hai hành vi độc lập là bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu.

– Hành vi bỏ vị trí chiến đấu là hành rời bỏ vị trí của mình đã được phân công trong chiến đấu mà không được phép của người chỉ huy có thẩm quyền dưới các hình thức: rời bỏ vị trí mà mình đang có mặt theo sự phân công một cách trái phép, không có mặt ở vị trí được phân công mà không có lí do chính đáng.

– Không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là hành vi của người đang làm nhiệm vụ trong chiến đấu, tuy có mặt trong đội hình chiến đấu của đơn vị và có đủ điều kiện nhưng không thực hiện nhiệm vụ mà mình được phân công hoặc phải thực hiện theo chức trách. Trong đó, “nhiệm vụ” ở đây có thể là nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu như: cấp dưỡng, thông tin, y tá…

Các hành vi này đều được thực hiện trong hoàn cảnh đang diễn ra hoạt động tác chiến giữa ta và địch. Thế nhưng khác với bỏ vị trí chiến đấu, không làm nhiệm vụ trong chiến đấu chỉ được thực hiện ở dạng không hành động.

Mặt chủ quan của tội phạm Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

 

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội đào ngũ và tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.