So sánh tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật và tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật ?

246

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật theo Điều 377 và Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 xâm phạm quyền tự do thân thể của con người, là một trong những nội dung quan trọng của quyền tự do của con người cũng như quyền tự do, dân chủ của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, bị xử lý như thế nào ?
Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, bị xử lý như thế nào ?
Tiêu chí Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
Khái niệm Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật là không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật hoặc thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành; không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi bắt, giữ hoặc giam người không đúng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác hoặc không thuộc trường hợp lợi dụng chức quyền hạn bắt giữ, giam người trái pháp luật.
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn có nghĩa vụ trong việc bắt người để giữ, để giam hoặc có nghĩa vụ phải trả tự do cho người bị bắt, bị giữ, bị giam mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

 

Khách thể của tội phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật cũng là tội xâm phạm đến hoạt động tư pháp, xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, mà nó xâm phạm trực tiếp đến quyền nhân thân (quyền bất khả xâm phạm) của con người hoặc người bị giữ, bị giam. Lẽ ra họ không bị bắt hoặc được trả tự do thì lại vẫn bị bắt, bị giữ, bị giam.

Đối tượng tác động của tội phạm này lại chính là người bị bắt, bị giữ, bị giam.

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm quyền tự do thân thể của con người, là một trong những nội dung quan trọng của quyền tự do của con người cũng như quyền tự do, dân chủ của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.

 

Mặt khách quan của tội phạm + Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội này là hành vi dưới dạng không hành động, cụ thể:

– Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật: Người có đủ thẩm quyền và có đủ căn cứ pháp lý để ra quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ nhưng đã không ra quyết định trả tự do cho người đó.

– Không thực hiện quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật: Người có trách nhiệm thi hành các quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ đã không thực hiện quyết định trả tự do của cấp có thẩm quyền.

– Quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quyết định của luật

– Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quyết định của luật

– Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo Quyết định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành

– Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn

+ Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật gây ra hậu quả thì tùy trường hợp người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

+ Hành vi khách quan

Người phạm tội có thể thực hiện cả ba hành vi: bắt, giữ hoặc giam người, nhưng có thể chỉ thực hiện một trong ba hành vi đó.

Bắt người trái pháp luật là hành vi bắt người ngoài các trường hợp pháp luật cho phép như bắt người mà không có lệnh của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bắt người không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt người có lệnh truy nã hoặc tuy có lệnh của những người có thẩm quyền nhưng việc tiến hành bắt không đúng thủ tục, như bắt người vào ban đêm (sau 22 giờ) mà không thuộc trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.

Hành vi bắt người trái pháp luật có thể được thực hiện bằng các hình thức như: dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực buộc người bị bắt phải đến nơi mà người phạm tội đã chọn. Nếu trong quá trình bắt mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình về các tội phạm tương ứng với hành vi phạm tội đã gây ra.

Giữ người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giữ người không đúng với quy định của pháp luật; giữ người không có lệnh của người có thẩm quyền; giữ người quá hạn; giữ người thuộc trường hợp không được tạm giữ. Hành vi bắt và giữ bao giờ cũng đi liền với nhau. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chỉ có hành vi bắt mà không có hành vi giữ hoặc ngược lại.

Giam người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giam người không đúng với quy định của pháp luật; giam người không có lệnh của người có thẩm quyền; giam người quá hạn; giam người thuộc trường hợp không được tạm giam. Hành vi giam người trái pháp luật nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 Bộ luật Hình sự thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Tính trái pháp luật trong việc bắt, giữ hoặc giam người là việc bắt, giữ hoặc giam người ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Vì vậy, khi xác định hành vi bắt, giữ hoặc giam người có trái pháp luật hay không, cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về việc bắt, giữ hoặc giam người. Những quy định này có thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng có thể trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhưng chủ yếu là Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cụ thể, pháp luật chỉ cho phép thực hiện việc bắt, tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp sau nếu thỏa mãn yêu cầu của từng trường hợp:

– Bắt người phạm tội quả tang: Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất… (Điều 111 BLTTHS năm 2015).

– Bắt người đang bị truy nã: Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt hoặc giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất… (khoản 1 Điều 112 BLTHS năm 2015).

– Bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Là trường hợp bắt người theo lệnh, quyết định của người, cơ quan có thẩm quyền được quy định tại Điều 113 BLTTHS năm 2015.

– Tạm giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã (Điều 113 BLTTHS năm 2015).

– Tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Là biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý đối với người có hành vi vi phạm hành chính do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cụ thể, mà theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016 của Chính phủ là các trường hợp: cần ngăn chặn, đình chỉ ngay các hành vi gây rối trật tự công cộng và gây thương tích cho người khác; cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong các trường hợp mà người vi phạm có dấu hiệu bỏ trốn, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm, gây cản trở việc xử lý vi phạm; khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi bạo lực gia đình.

– Tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội theo quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2015.

Việc bắt, giữ hoặc giam người được quy định rất chặt chẽ, ngoài những trường hợp quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự và trong Luật Xử lý vi phạm hành chính thì mọi trường hợp bắt, giữ hoặc giam người đều là trái pháp luật.

+ Hậu quả

Hậu quả của hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trước hết là gây ra cho người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam oan. Ngoài ra, do bị bắt, bị giữ hoặc bị giam oan mà còn gây ra những hậu quả khác cho người bị hại hoặc cho gia đình họ hoặc xã hội như: do bị bắt oan nên người bị bắt uất ức quá mà tự sát, bị tra tấn nhục hình gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe,… Hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc, nếu có thì là dấu hiệu định khung hình phạt.

Nếu người phạm tội có ý định bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, đã chuẩn bị phương tiện, địa điểm, lực lượng để thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hành vi bắt người thì không bị coi là hành vi phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý.

 

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật và tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.