Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật là không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật hoặc thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành; không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn. Vậy, người phạm tội bị xử lý như thế nào ?

MỤC LỤC
1. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật, những dấu hiệu cơ bản
a. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn có nghĩa vụ trong việc bắt người để giữ, để giam hoặc có nghĩa vụ phải trả tự do cho người bị bắt, bị giữ, bị giam mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bắt người trái pháp luật nhưng không liên quan đến hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì không phải là chủ thể của tội phạm này, mà tùy thuộc vào trường hợp cụ thể họ là chủ thể của tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi theo Điều 153 Bộ luật Hình sự hoặc tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn theo Điều 157 Bộ luật Hình sự.
b. Khách thể của tội phạm
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật cũng là tội xâm phạm đến hoạt động tư pháp, xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, mà nó xâm phạm trực tiếp đến quyền nhân thân (quyền bất khả xâm phạm) của con người hoặc người bị giữ, bị giam. Lẽ ra họ không bị bắt hoặc được trả tự do thì lại vẫn bị bắt, bị giữ, bị giam.
Đối tượng tác động của tội phạm này lại chính là người bị bắt, bị giữ, bị giam.
c. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan
Hành vi khách quan của tội này là hành vi dưới dạng không hành động, cụ thể:
– Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật: Người có đủ thẩm quyền và có đủ căn cứ pháp lý để ra quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ nhưng đã không ra quyết định trả tự do cho người đó.
– Không thực hiện quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật: Người có trách nhiệm thi hành các quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ đã không thực hiện quyết định trả tự do của cấp có thẩm quyền.
– Quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quyết định của luật.
– Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quyết định của luật.
– Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo Quyết định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành.
– Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.
Hậu quả
Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật gây ra hậu quả thì tùy trường hợp người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.
d. Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình và lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền để ra quyết định bắt hoặc không ra quyết định trả tự do, hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.
Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, động cơ của người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, nếu vì động cơ muốn hoàn thành nhiệm vụ, do nóng vội hoặc thiếu kiểm tra thì không phải là tội phạm này.
2. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật, bị xử lý như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 377 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :
“Điều 377. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
b) Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;
c) Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
d) Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành;
đ) Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Giam, giữ trái pháp luật từ 02 người đến 05 người;
b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật bị tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên;
b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết;
c) Làm người bị giam, giữ tự sát;
d) Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



