Home Thủ tục ly hôn Thủ tục ly hôn đơn phương với người bị tâm thần ?

Thủ tục ly hôn đơn phương với người bị tâm thần ?

236

Người bị tâm thần là người bị rối loạn hoạt động của não bộ nên trong giai đoạn mắc bệnh họ không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Vậy, nếu “nửa kia” muốn ly hôn, thủ tục ly hôn đơn phương với người bị tâm thần như thế nào ?

Thủ tục ly hôn đơn phương với người bị tâm thần

1. Ai có quyền yêu cầu ly hôn ?

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn bao gồm :

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

– Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

– Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Ngược lại, nếu vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người vợ có quyền được yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

2. Qui định về ly hôn với người bị tâm thần

Trong thực tiễn có hai trường hợp xảy ra :

a. Trường hợp 1 : người vợ (chồng) bình thường yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần mà đã xác định đã mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Toà án.

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

– Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn chỉ bị hạn chế đối với người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được qui định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014. 

– Điều luật qui định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn không cấm hay hạn chế trường hợp vợ (chồng) yêu cầu ly hôn với người còn lại là người bị tâm thần. Khi có yêu cầu ly hôn trong trường hợp bên bị kiện là người bị tâm thần thì Tòa án phải thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự như chỉ dẫn của khoản 1 Điều 53 Luật HN&GĐ năm 2014. Nhưng chưa có qui định cụ thể nào về tố tụng trong trường hợp người bị kiện trong vụ án ly hôn là người bị tâm bệnh tâm thần.

Người đại diện cho vợ (chồng) là người bị tâm thần ?

Khi bị đơn là người bị bệnh tâm thần thì họ không thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, khoản 4 Điều 69 BLTTDS qui định:

Người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

Đại diện cho nhau giữa vợ, chồng khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự cần phải tiếp cận dưới hai phương diện.

Thứ nhất, vợ (chồng) bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại sẽ được xác định là người giám hộ đương nhiên theo qui định tại khoản 1 Điều 53 BLDS và khoản 3 Luật HN&GĐ năm 2014. Khi thực hiện các giao dịch dân sự hoặc tham gia tố tụng tại Toà án với một chủ thể thứ ba thì người giám hộ đại diện và thay mặt họ để thực hiện.

Thứ hai, nếu ngay chính vợ (chồng) hay nói cách khác là ngay người giám hộ và người được giám hộ có xung đột về lợi ích, xung đột về quyền và nghĩa vụ thì người giám hộ sẽ không đủ điều kiện để giám hộ, Toà án sẽ chỉ định người khác giám hộ để đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự thực hiện bảo vệ các quyền và lợi ích của họ, chẳng hạn như vợ chồng ly hôn.

Nội dung này được qui định tại khoản 3 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2014:

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Việc chỉ định của Toà án phải căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự.

Tại khoản 1 Điều 88 BLTTDS cũng có đề cập:

Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.

Vợ chồng ly hôn thì người còn lại không đủ điều kiện giám hộ, để làm đại diện cho nhau khi ly hôn nên bị loại trừ.

Chủ thể còn lại là con của vợ chồng xin ly hôn đại diện cho cha, mẹ (Bị mất năng lực hành vi dân sự) để ly hôn với người còn lại là cha hoặc mẹ mình, tuy không bị cấm nhưng Toà án sẽ không chọn lựa trong tình huống như vậy bởi vì trái với truyền thống tốt và ý thức hệ của gia đình người Việt Nam.

Chủ thể còn lại là cha (mẹ) của người vợ (chồng) bị bệnh tâm thần là người sẽ được chỉ định để đại diện cho con của họ (nếu đủ điều kiện) để tham gia tố tụng tại Toà án khi chồng hoặc vợ có yêu cầu ly hôn. Xa hơn nữa, nếu cha mẹ của người bị mất năng lực hành vi dân sự không có đủ điều kiện giám hộ (hoặc đã chết hoặc không có cha mẹ) thì Toà án sẽ chỉ định người thân thích của người mất năng lực hành vi dân sự để đại diện cho họ tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn.

b. Trường hợp 2 : là người bị bệnh tâm thần (đã xác định là mất năng lực hành vi dân sự) bị đối xử ngược đãi hay vì một lý do nào đó mà chủ thể khác (chủ thể thứ ba) đứng ra yêu cầu Toà án giải quyết cho người bị bệnh tâm thần được ly hôn với người vợ (chồng) còn lại.

Người bị bệnh tâm thần là vợ (chồng) thì người kia là người giám hộ và đại diện cho họ nhưng trong thực tế người bị tâm thần vì lý do nào đó cần được ly hôn với người vợ chồng nên khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ qui định:

Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Ngoài chủ thể là cha, mẹ, người thân thích, khoản 1, 5 Điều 187 BLTTDS còn có qui định:

Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Ly hôn với một bên có dấu hiệu bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh tâm thần nhưng chưa có quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và Luật Hôn nhân và gia đình không có qui định về trường hợp ly hôn với người có dấu hiệu bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh tâm thần nhưng chưa có quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự. Khi gặp tình huống này, Toà án thường yêu cầu đương sự làm thủ tục xác định tình trạng năng lực pháp luật của người này để xác định họ có thể đủ năng lực tham gia tố tụng tại Toà án hay không.

Một trong trong những cách thức đó là: Yêu cầu làm thủ tục tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Nhưng để tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự vì lý do bị bệnh tâm thần thì cần phải có tài liệu chứng cứ chứng minh như kết luận của cơ quan chuyên môn và đó là một việc dân sự nên đòi hỏi những thủ tục nhất định theo qui định của BLTTDS.

4. Thủ tục ly hôn đơn phương với người bị tâm thần

Theo quy định của pháp luật hiện hành, không có quy định về việc cấm ly hôn với người bị bệnh tâm thần nên trường hợp này hoàn toàn có thể ly hôn đơn phương. Để ly hôn với người bị bệnh tâm thần, cần phải qua hai bước sau:

Bước 1 : Thủ tục tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Hồ sơ làm thủ tục tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự bao gồm giấy tờ gì ?

– Đơn yêu cầu tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

– Kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Trình tự, thủ tục tuyên bố 1 người mất năng lực hành vi dân sự

– Bước 1: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn yêu cầu tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

– Bước 2: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, tòa án sẽ ra quyết định mở phiên họp xem xét có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

– Bước 3: Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Bước 2 : Thủ tục ly hôn với người đã bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Khi đã làm thủ tục ly hôn với người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự:

Trường hợp một bên bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì bên kia có quyền xin ly hôn.

Hồ sơ ly hôn gồm những giấy tờ gì ?

– Đơn xin ly hôn (theo mẫu quy định);

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

– Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân (bản sao chứng thực);

– Giấy xác nhận thông tin cư trú hoặc hộ khẩu của các bên (bản sao chứng thực);

– Quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự;

– Giấy khai sinh của các con (bản sao chứng thực);

– Giấy tờ chứng minh về tài sản (bản sao chứng thực) (nếu có yêu cầu).

Nộp hồ sơ ở đâu ?

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc.

Do đó, hồ sơ đơn phương ly hôn của bạn phải được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng/vợ bạn đang đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú hoặc đang làm việc.

Lệ phí, án phí là bao nhiêu ?

Hiện nay, mức án phí ly hôn đơn phương được xác định theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, cụ thể như sau:

– Trường hợp vợ, chồng không có tranh chấp về tài sản, mức án phí ly hôn đơn phương là 300.000 đồng.

– Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được việc phân chia tài sản và yêu cầu tòa án giải quyết, ngoài mức án phí nêu trên, đương sự còn phải chịu án phí có giá ngạch, được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm giá trị tài sản mà vợ, chồng được chia.

5. Chồng bị tâm thần, vợ có được bán tài sản chung là nhà đất không ?

Chồng bị tâm thần, vợ có trở thành người giám hộ của chồng ?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự:

Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.

Theo quy định này, nếu người chồng bị tâm thần thì được coi là người mất năng lực hành vi dân sự. Để bán tài sản chung là nhà đất, người vợ cần đưa chồng đến Tổ chức Giám định pháp y có thẩm quyền để giám định.

Nếu tổ chức Giám định pháp y kết luận người chồng bị tâm thần không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, người vợ sẽ phải làm đơn đề nghị tòa án có thẩm quyền tuyên bố người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự. Kể từ thời điểm quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật, người chồng được pháp luật xác định là người mất năng lực hành vi dân sự và người vợ trở thành người giám hộ đương nhiên của chồng.

Là người giám hộ của chồng, người vợ có quyền gì ?

Theo khoản 1 Điều 58 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của người giám hộ như sau:

Điều 58. Quyền của người giám hộ

1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:

a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;

b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Vì vậy, theo như trường hợp trên thì người vợ được đại diện cho chồng để tham gia các giao dịch bao gồm việc bán tài sản chung vợ chồng nhằm mục đích chăm sóc, chữa bệnh, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu.

Chồng bị tâm thần, làm cách nào để vợ được bán tài sản chung là nhà đất ?

Bán tài sản chung vợ chồng, người vợ có cần sự đồng ý của ai không ?

Giao dịch về tài sản của người được giám hộ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật Dân sự:

Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Người giám sát người giám hộ được quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự:

Người thân thích của người được giám hộ có trách nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ, xem xét, giải quyết kịp thời những đề nghị, kiến nghị của người giám hộ liên quan đến việc giám hộ.

Theo luật, người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ. Nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ. Nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác, chú, cậu, cô, dì của người được giám hộ.

Tóm lại, chồng bị tâm thần, để được bán tài sản chung là nhà đất, người vợ tiến hành theo trình tự sau :

– Đề nghị tòa án có thẩm quyền tuyên người chồng mất năng lực hành vi dân sự.

– Họp gia đình để cử người giám sát việc giám hộ để giám sát các hoạt động giao dịch của người vợ có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng cần bán là nhà đất. Việc bán căn nhà/mảnh đất này của người vợ phải được người giám sát việc giám hộ đồng ý bằng văn bản và người vợ phải chứng minh được việc bán là để phục vụ cho việc chữa bệnh cho chồng.

– Hoàn thành đầy đủ các thủ tục như trên, người vợ liên hệ với cơ quan công chứng nơi có căn nhà/mảnh đất để được hướng dẫn thủ tục và thực hiện việc bán theo quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Thủ tục ly hôn đơn phương với người bị tâm thần ? Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.