Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi bắt, giữ hoặc giam người không đúng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác hoặc không thuộc trường hợp lợi dụng chức quyền hạn bắt giữ, giam người trái pháp luật. Vậy, người phạm tội bị xử lý như thế nào ?

MỤC LỤC
1. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, những dấu hiệu cơ bản
a. Chủ thể của tội phạm
Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.
b. Khách thể của tội phạm
Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm quyền tự do thân thể của con người, là một trong những nội dung quan trọng của quyền tự do của con người cũng như quyền tự do, dân chủ của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.
c. Mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi khách quan
Người phạm tội có thể thực hiện cả ba hành vi: bắt, giữ hoặc giam người, nhưng có thể chỉ thực hiện một trong ba hành vi đó.
Bắt người trái pháp luật là hành vi bắt người ngoài các trường hợp pháp luật cho phép như bắt người mà không có lệnh của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bắt người không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt người có lệnh truy nã hoặc tuy có lệnh của những người có thẩm quyền nhưng việc tiến hành bắt không đúng thủ tục, như bắt người vào ban đêm (sau 22 giờ) mà không thuộc trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.
Hành vi bắt người trái pháp luật có thể được thực hiện bằng các hình thức như: dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực buộc người bị bắt phải đến nơi mà người phạm tội đã chọn. Nếu trong quá trình bắt mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình về các tội phạm tương ứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
Giữ người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giữ người không đúng với quy định của pháp luật; giữ người không có lệnh của người có thẩm quyền; giữ người quá hạn; giữ người thuộc trường hợp không được tạm giữ. Hành vi bắt và giữ bao giờ cũng đi liền với nhau. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chỉ có hành vi bắt mà không có hành vi giữ hoặc ngược lại.
Giam người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giam người không đúng với quy định của pháp luật; giam người không có lệnh của người có thẩm quyền; giam người quá hạn; giam người thuộc trường hợp không được tạm giam. Hành vi giam người trái pháp luật nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 Bộ luật Hình sự thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Tính trái pháp luật trong việc bắt, giữ hoặc giam người là việc bắt, giữ hoặc giam người ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Vì vậy, khi xác định hành vi bắt, giữ hoặc giam người có trái pháp luật hay không, cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về việc bắt, giữ hoặc giam người. Những quy định này có thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng có thể trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhưng chủ yếu là Bộ luật Tố tụng hình sự.
Cụ thể, pháp luật chỉ cho phép thực hiện việc bắt, tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp sau nếu thỏa mãn yêu cầu của từng trường hợp:
– Bắt người phạm tội quả tang: Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất… (Điều 111 BLTTHS năm 2015).
– Bắt người đang bị truy nã: Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt hoặc giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất… (khoản 1 Điều 112 BLTHS năm 2015).
– Bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Là trường hợp bắt người theo lệnh, quyết định của người, cơ quan có thẩm quyền được quy định tại Điều 113 BLTTHS năm 2015.
– Tạm giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã (Điều 113 BLTTHS năm 2015).
– Tạm giữ người theo thủ tục hành chính: Là biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý đối với người có hành vi vi phạm hành chính do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cụ thể, mà theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016 của Chính phủ là các trường hợp: cần ngăn chặn, đình chỉ ngay các hành vi gây rối trật tự công cộng và gây thương tích cho người khác; cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong các trường hợp mà người vi phạm có dấu hiệu bỏ trốn, tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm, gây cản trở việc xử lý vi phạm; khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi bạo lực gia đình.
– Tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội theo quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2015.
Việc bắt, giữ hoặc giam người được quy định rất chặt chẽ, ngoài những trường hợp quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự và trong Luật Xử lý vi phạm hành chính thì mọi trường hợp bắt, giữ hoặc giam người đều là trái pháp luật.
+ Hậu quả
Hậu quả của hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trước hết là gây ra cho người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam oan. Ngoài ra, do bị bắt, bị giữ hoặc bị giam oan mà còn gây ra những hậu quả khác cho người bị hại hoặc cho gia đình họ hoặc xã hội như: do bị bắt oan nên người bị bắt uất ức quá mà tự sát, bị tra tấn nhục hình gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe,… Hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc, nếu có thì là dấu hiệu định khung hình phạt.
Nếu người phạm tội có ý định bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, đã chuẩn bị phương tiện, địa điểm, lực lượng để thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hành vi bắt người thì không bị coi là hành vi phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
d. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Nếu do thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì tùy trường hợp cụ thể, hành vi của người phạm tội có thể cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chỉ bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính.
Dấu hiệu động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội.
2. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, bị xử lý như thế nào ?
Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :
“Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo Điều 157 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



