Tội bức cung theo điều 374 Bộ luật Hình sự năm 2015

135

Bức cung là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đã sử dụng các thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc. Vậy, người phạm tội bức cung bị xử lý như thế nào ?

Tội bức cung theo điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015
Tội bức cung theo điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015

1. Tội bức cung, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này cũng là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử như: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra; viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát; chánh án, phó chánh án tòa án; điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm mới có thể thực hiện được tội phạm này.

So với tội dùng nhục hình thì chủ thể của tội bức cung hẹp hơn, vì phạm vi áp dụng đối với tội phạm này chỉ đối với những người có trách nhiệm xét hỏi trong hoạt động tố tụng.

Những người như: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát; chánh án, phó chánh án tòa án; điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm không được phân công giải quyết vụ án nhưng tự ý lấy lời khai, hỏi cung mà ép buộc người khác khai báo thì không phải là chủ thể của tội bức cung mà tùy trường hợp, những người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội dùng nhục hình hoặc tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” hoặc tội “lạm quyền”.

b. Mặt khách thể của tội phạm

Tội bức cung không chỉ xâm phạm đến uy tín của cơ quan tra, viện kiểm sát, tòa án; xâm phạm đến nguyên tắc “chống bức cung” mà Hiến pháp quy định. Do bị bức cung đã làm cho người bị xét hỏi có thể khai sai sự thật hoặc có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các đương sự trong vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người bị bức cung.

Khác với tội dùng nhục hình, người bị bức cung không chỉ đa số là bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bị kết án đang cải tạo trong các trại giam, mà còn đối với những người tham gia tố tụng khác trong vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, tranh chấp lao động hoặc vụ án hành chính.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Bức cung là ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc. Hành vi ép buộc có thể được biểu hiện như sau: dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần hoặc đe dọa sẽ gây thiệt hại về vật chất đối với người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung như: nếu không khai sai sự thật thì sẽ bị nhốt vào phòng biệt giam, sẽ để đói, để khát, không cho nhận quà… (đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam); nếu khai sai sự thật thì sẽ cho công bố thư, ảnh, lời nói, hành động… liên quan đến bí mật đời tư; không cho lên lương, không cơ cấu, bổ nhiệm, đề bạt hoặc sẽ bị thiệt hại về những quyền lợi khác (đối với người bị lấy lời khai).

Xem thêm : Phân biệt tội dùng nhục hình và tội bức cung

Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi bức cung chưa làm cho người bị bức chưa khai ra thông tin liên quan ở vụ án, vụ việc thì hành vi bức cung chưa cấu thành tội phạm.

Hậu quả của hành vi nói trên đó là dẫn tới người bị thẩm vấn đã khai sai và do vậy gây hậu quả nghiêm trọng cho việc giải quyết vụ án. Hậu quả nghiêm trọng ở đây có thể là hậu quả xử sai một cách nghiêm trọng (oan hoặc bỏ lọt, xử phạt quá nặng hoặc xử phạt quá nhẹ…) hoặc có thể bắt giam người sai…

Đối với tội bức cung, ngoài hành vi khách quan và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhà làm luật còn quy định một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, đó là: thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng phải là trái pháp luật. Thủ đoạn trái pháp luật là những phương pháp, cách thức bị pháp luật cấm hoặc không cho phép như: đe dọa sẽ bị xử nặng hơn, đe dọa sẽ bị giam lâu, đe dọa dùng nhục hình, hỏi cung liên tục vào ban đêm…

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội bức cung thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất cần thiết. Nếu người phạm tội vì động cơ cá nhân hoặc động cơ xấu khác thì sẽ bị phạt nặng hơn người phạm tội vì động cơ nóng vội, muốn hoàn thành sớm việc điều tra, kết thúc vụ án, vụ việc.

Xem thêm : Tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự

2. Phạm tội bức cung, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 374 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 374. Tội bức cung

1. Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Dẫn đến Làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

g) Ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bức cung tự sát;

b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm người bị bức cung chết;

b) Dẫn đến làm oan người vô tội;

c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội bức cung theo Điều 374 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.