Tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự

295

Dùng nhục hình là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào. Vậy, người phạm tội dùng nhục hình bị xử lý như thế nào ?

Tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự
Tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự

1. Tội dùng nhục hình, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Tòa án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, các cán bộ trong các nhà Tạm giữ, Trại tạm giam, Trại giam (Ban giám thị, quản giáo) mới có thể thực hiện được tội phạm này.

b. Khách thể của tội phạm

Tội dùng nhục hình không chỉ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người bị nhục hình mà còn làm giảm uy tín của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người bị nhục hình, họ là nạn nhân của hành vi dùng nhục hình. Người bị nhục hình đa số là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bị kết án đang cải tạo trong các trại giam, người đang học tập ở trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, bệnh nhân cơ sở cai nghiện bắt buộc, còn đối với những người tham gia tố tụng khác ít là đối tượng tác động của tội phạm này.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án hình sự, giáo viên trong trường giáo dưỡng, trong cơ sở giáo dục bắt buộc, bác sỹ, điều dưỡng viên trong cơ sở cai nghiện bắt buộc có thể thực hiện một hoặc một số hành vi sau: tra tấn, đánh đập, bắt nhịn ăn, nhịn uống, cho ăn cơm thừa, canh cặn, không cho ngủ, cùm kẹp, hỏi cung suốt ngày đêm, bắt phơi nắng, bắt tắm nước lạnh vào mùa đông hoặc có hành vi khác gây đau đớn về thể xác và tinh thần đối với người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam hoặc những học viên trong trường giáo dưỡng, trong cơ sở giáo dục bắt buộc, bệnh nhân trong cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Chỉ coi là hành vi dùng nhục hình nếu người phạm tội với người bị dùng nhục hình có mối quan hệ lệ thuộc như: điều tra viên với người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị can mà điều tra viên đó được giao nhiệm vụ điều tra… Nếu không có quan hệ lệ thuộc giữa hành vi dùng nhục hình với nạn nhân thì không phải là tội “dùng nhục hình” mà tùy trường hợp, người có hành vi xâm phạm đến tính mạng sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người “bị nhục hình” sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng như : tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, tội làm nhục người khác, …

Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi dùng nhục hình là tội phạm đã hoàn thành.

Xem thêm : Phân biệt tội dùng nhục hình và tội bức cung

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội dùng nhục hình thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc tuy chỉ thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất cần thiết. Nếu người phạm tội vì động cơ cá nhân hoặc động cơ xấu khác thì sẽ bị phạt nặng hơn người phạm tội vì động cơ nóng vội, vì thành tích, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án sớm.

Trường hợp người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng biết rõ người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo là người không có tội mà dùng nhục hình để buộc họ phải nhận tội thì ngoài tội dùng nhục hình, người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tố tụng còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội nếu các dấu hiệu khác thỏa mãn yếu tố cấu thành tội phạm.

Xem thêm : Tội bức cung theo Điều 374 Bộ luật Hình sự

2. Phạm tội dùng nhục hình, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 373. Tội dùng nhục hình

1. Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

đ) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Làm người bị nhục hình tự sát.

4. Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.