Tội cản trở thi hành án theo Điều 381 Bộ luật Hình sự

259

Cản trở thi hành án là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây khó khăn, trở ngại làm cho việc thi hành án không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng với bản án hoặc quyết định của tòa án. Vậy, người phạm tội cản trở thi hành án bị xử lý như thế nào ?

Tội cản trở thi hành án
Tội cản trở thi hành án

1. Tội cản trở thi hành án, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Nếu không phải là người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi cản trở việc thi hành án thì tùy trường hợp mà người có hành vi cản trở bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án hoặc tội chống người thi hành công vụ.

Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ.

Người có chức vụ, quyền hạn có thể là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến việc thi hành án, nhưng cũng có cả những người không liên quan gì đến việc thi hành án, nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc thi hành án, nhất là đối với các vụ án hành chính, tòa án tuyên bố cơ quan, tổ chức thua kiện, thì người có chức vụ, quyền hạn thường gọi điện thoại, thậm chí làm hẳn công văn yêu câu cơ quan, tổ chức không chấp hành bản án của tòa án.

b. Khách thể của tội phạm

Cản trở thi hành án cũng tức là không muốn bản án hoặc quyết định của tòa án được thi hành nên khách thể của tội phạm này cũng xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là cơ quan thi hành án, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.

Đối tượng tác động của tội phạm này là những người có trách nhiệm thi hành án như: người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án và người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc người phải chấp hành án nhằm làm cho việc thi hành án không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bản án hoặc quyết định của tòa án. Thông qua những người này mà người phạm tội cản trở việc thi hành án. Cản trở việc thi hành án là cản trở việc ra quyết định thi hành án hoặc cản trở việc thi hành quyết định thi hành án, hoặc cản trở việc chấp hành án.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp người phạm tội không trực tiếp cản trở người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án, mà bằng những thủ đoạn khác tác động đến những người này như: đe dọa, dụ dỗ những người thân của người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án, để những người này tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án tạm dừng hoặc hủy bỏ việc thi hành án.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Người phạm tội cản trở thi hành án là người có chức vụ, quyền hạn nên trước hết họ phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà họ có để tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án để việc thi hành án không được thực hiện. Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc thi hành án thì không phải là hành vi phạm tội cản trở việc thi hành án mà tùy thuộc vào trường hợp cụ thể người có chức vụ, quyền hạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm khác.

Bằng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác nhau để tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án làm cho việc thi hành án không được thực hiện như: gọi điện, viết thư cho người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án tạm dừng việc ra quyết định hoặc tạm dừng việc thi hành quyết định, hoặc tác động đến người phải chấp hành án; tạo điều kiện cho người phải chấp hành án bỏ đi khỏi địa phương một cách “hợp pháp” (đi công tác, học tập ở nước ngoài dài hạn); báo trước cho người phải chấp hành án bỏ trốn hoặc bỏ đi khỏi địa phương, để tẩu tán tài sản, để ngăn cản, chống đối lực lượng thi hành án trước khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thi hành án, hoặc có những hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án. Hành vi cản trở việc thi hành án thường gắn liền với hành vi không thi hành án hoặc hành vi không chấp hành án.

Xem thêm : So sánh tội cản trở việc thi hành án với tội không thi hành án

Hậu quả

Hậu quả của hành vi cản trở thi hành án là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi cản trở việc thi hành án chưa gây ra hậu quả hoặc tuy đã gây ra hậu quả nhưng hậu quả đó chưa đến mức quy định từ điểm a đến điểm d khoản 1 của điều luật thì hành vi cản trở việc thi hành án chưa cấu thành tội phạm.

Hậu quả của tội phạm được liệt kê tại khoản 1 của điều luật, đó là: dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn; dẫn đến hết thời hiệu thi hành án; dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội cản trở thi hành án thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là biết rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật nhằm cản trở việc thi hành án, mong muốn cho hậu quả hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.

Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn ngăn cản việc thi hành án nhưng họ không nhận thức được hành vi đó là hành vi trái pháp luật mà họ ngộ nhận hành vi đó là hành vi thuộc nhiệm vụ của mình thì không phải là cố ý cản trở việc thi hành án.

Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, động cơ của người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

Nếu người phạm tội nhận hối lộ để cản trở việc thi hành án thì ngoài tội cản trở việc thi hành án, còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

Xem thêm : Tội không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự

2. Tội cản trở thi hành án, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 381 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 381. Tội cản trở việc thi hành án

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn;

b) Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án;

c) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm;

c) Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 200.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại 200.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội cản trở thi hành án theo Điều 381 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.