So sánh tội cản trở việc thi hành án với tội không thi hành án

192

Tội cản trở thi hành án theo Điều 381 và Tội không thi hành án theo Điều 379 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt. Đó là những người có chức vụ, quyền hạn.

Tội cản trở thi hành án
Tội cản trở thi hành án
Tiêu chí Tội cản trở thi hành án Tội không thi hành án
Khái niệm Cản trở thi hành án là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây khó khăn, trở ngại làm cho việc thi hành án không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng với bản án hoặc quyết định của tòa án. Không thi hành án là hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án.
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Người có chức vụ, quyền hạn có thể là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến việc thi hành án, nhưng cũng có cả những người không liên quan gì đến việc thi hành án, nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc thi hành án, nhất là đối với các vụ án hành chính, tòa án tuyên bố cơ quan, tổ chức thua kiện, thì người có chức vụ, quyền hạn thường gọi điện thoại, thậm chí làm hẳn công văn yêu cầu cơ quan, tổ chức không chấp hành bản án của tòa án.

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án hoặc trong việc thi hành quyết định thi hành án mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Khách thể của tội phạm Cản trở thi hành án cũng tức là không muốn bản án hoặc quyết định của tòa án được thi hành nên khách thể của tội phạm này cũng xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là cơ quan thi hành án, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.

Đối tượng tác động của tội phạm này là những người có trách nhiệm thi hành án như: người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án và người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc người phải chấp hành án nhằm làm cho việc thi hành án không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bản án hoặc quyết định của tòa án.

Tội không thi hành án là tội xâm phạm trực tiếp đến hoạt động tư pháp, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.

Đối tượng tác động của tội phạm này là các bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án.

 

Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan

Người phạm tội cản trở thi hành án là người có chức vụ, quyền hạn nên trước hết họ phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà họ có để tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án để việc thi hành án không được thực hiện. Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc thi hành án thì không phải là hành vi phạm tội cản trở việc thi hành án mà tùy thuộc vào trường hợp cụ thể người có chức vụ, quyền hạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm khác.

Bằng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác nhau để tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án làm cho việc thi hành án không được thực hiện như: gọi điện, viết thư cho người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án tạm dừng việc ra quyết định hoặc tạm dừng việc thi hành quyết định, hoặc tác động đến người phải chấp hành án; tạo điều kiện cho người phải chấp hành án bỏ đi khỏi địa phương một cách “hợp pháp” (đi công tác, học tập ở nước ngoài dài hạn); báo trước cho người phải chấp hành án bỏ trốn hoặc bỏ đi khỏi địa phương, để tẩu tán tài sản, để ngăn cản, chống đối lực lượng thi hành án trước khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thi hành án, hoặc có những hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án. Hành vi cản trở việc thi hành án thường gắn liền với hành vi không thi hành án hoặc hành vi không chấp hành án.

Hậu quả

Hậu quả của hành vi cản trở thi hành án là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi cản trở việc thi hành án chưa gây ra hậu quả hoặc tuy đã gây ra hậu quả nhưng hậu quả đó chưa đến mức quy định từ điểm a đến điểm d khoản 1 của điều luật thì hành vi cản trở việc thi hành án chưa cấu thành tội phạm.

Hậu quả của tội phạm được liệt kê tại khoản 1 của điều luật, đó là: dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn; dẫn đến hết thời hiệu thi hành án; dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Hành vi khách quan

Căn cứ vào chủ thể của tội phạm này thì người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi: không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án.

Không ra quyết định thi hành án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án nhưng đã không ra quyết định thi hành, và do không ra quyết định thi hành án nên bản án hoặc quyết định của tòa án không được thi hành.

Không thi hành quyết định thi hành bản án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc thi hành bản án nhưng đã không thi hành. Ví dụ: Mặc dù đã có quyết định thi hành bản án phạt tù đối với T, nhưng S – Trưởng công an huyện đã không tổ chức thi hành quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, nên T không bị bắt thi hành án và tiếp tục phạm tội mới.

Hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án của người có nhiệm vụ phải thi hành là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có thể có cả hành vi không ra quyết định thi hành án và hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án. Tuy nhiên, nếu là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án thì hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án là không thi hành quyết định của người khác chứ không phải chính quyết định của chính mình.

Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án nhưng chưa dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn; chưa dẫn đến hết thời hiệu thi hành án; chưa dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng và cũng chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi không thi hành án, thì chưa cấu thành tội không thi hành án.

 

Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý.

Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm

 

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội cản trở việc thi hành án với tội không thi hành án. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.