Tội không thi hành án theo Điều 379 Bộ luật Hình sự

180

Không thi hành án là hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án. Vậy, người phạm tội không thi hành án bị xử lý như thế nào ?

Tội không thi hành án
Tội không thi hành án

1. Tội không thi hành án, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án hoặc trong việc thi hành quyết định thi hành án mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án bao gồm: chánh án tòa án hoặc phó chánh án được chánh án ủy quyền đã ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm hình sự; chánh án tòa án được ủy thác thi hành bản án, quyết định hình sự; thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; những người khác theo quy định của pháp luật có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Người có thẩm quyền có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án bao gồm:

– Cán bộ, chiến sĩ công an có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án đối với các bản án, quyết định hình sự đối với hình phạt trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

– Cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân trong các đơn vị có nhiệm vụ thi hành án đối với các bản án, quyết định hình sự đối với hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

– Cán bộ chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ thi hành hình phạt quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và theo dõi, giáo dục, giám sát việc cải tạo của những người được hưởng án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ.

– Cán bộ trong các cơ sở chuyên khoa y tế có nhiệm vụ thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh.

– Thủ trưởng, phó thủ trưởng, chấp hành viên trong các cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm vụ thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự, vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.

Một dấu hiệu về chủ thể của tội phạm và cũng là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này là: người không thi hành án phải là người đã bị xử lý kỷ luật về hành vi không thi hành án mà còn vi phạm thì mới là chủ thể của tội phạm này.

b. Khách thể của tội phạm

Tội không thi hành án là tội xâm phạm trực tiếp đến hoạt động tư pháp, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.

Đối tượng tác động của tội phạm này là các bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Căn cứ vào chủ thể của tội phạm này thì người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi: không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án.

Không ra quyết định thi hành án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án nhưng đã không ra quyết định thi hành, và do không ra quyết định thi hành án nên bản án hoặc quyết định của tòa án không được thi hành.

Không thi hành quyết định thi hành bản án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc thi hành bản án nhưng đã không thi hành. Ví dụ: Mặc dù đã có quyết định thi hành bản án phạt tù đối với T, nhưng S – Trưởng công an huyện đã không tổ chức thi hành quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, nên T không bị bắt thi hành án và tiếp tục phạm tội mới.

Hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án của người có nhiệm vụ phải thi hành là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có thể có cả hành vi không ra quyết định thi hành án và hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án. Tuy nhiên, nếu là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án thì hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án là không thi hành quyết định của người khác chứ không phải chính quyết định của chính mình.

Xem thêm : So sánh tội không thi hành án và tội không chấp hành án

Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án nhưng chưa dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn; chưa dẫn đến hết thời hiệu thi hành án; chưa dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng và cũng chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi không thi hành án, thì chưa cấu thành tội không thi hành án.

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội không thi hành án thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý. Nếu người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án nhưng vì lý do khách quan như: để quên, do không được báo cáo, do không nhận được quyết định, do thiếu trách nhiệm, do phải đi công tác dài hạn hoặc đã ủy quyền cho cấp phó hoặc do những lý do khách quan khác dẫn đến người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án thì tùy trường hợp, người có hành vi có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu

trách nhiệm hình sự về tội phạm khác chứ không thuộc trường hợp phạm tội không thi hành án.

Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, dù người phạm tội với động cơ nào đi nữa thì hành vi cố ý không thi hành án đều đã cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, động cơ của người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Nếu người phạm tội nhận hối lộ mà không thi hành án thì ngoài tội không thi hành án, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

2. Tội không thi hành án, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 379 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 379. Tội không thi hành án

1. Người nào có thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn;

c) Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án;

d) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

c) Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội không thi hành án theo Điều 379 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.