Người phạm tội không thi hành án theo Điều 379 và tội không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015 thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý và động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành các tội phạm này.

| Tiêu chí | Tội không thi hành án | Tội không chấp hành án |
| Khái niệm | Không thi hành án là hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án. | Không chấp hành án là hành vi không chấp hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không chấp hành án mà còn vi phạm. |
| Chủ thể của tội phạm | Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án hoặc trong việc thi hành quyết định thi hành án mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
|
Chủ thể của tội phạm này tuy không phải là người có chức vụ, quyền hạn nhưng cũng có thể coi là chủ thể đặc biệt, vì chỉ những người có nghĩa vụ trong việc chấp hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Những người có nghĩa vụ trong việc chấp hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật là những người mà theo quy định của pháp luật họ phải có nghĩa vụ chấp hành như: bị cáo, người vụ liên quan đến bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ án hình sự; đương sự trong các vụ án dân sự; các vụ án kinh doanh thương mại, các vụ án tranh chấp lao động, các vụ án hành chính. Chỉ những người có nghĩa vụ trong việc chấp hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật là những người mà theo quy định của pháp luật họ phải có nghĩa vụ chấp hành, nếu họ đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không chấp hành án mà còn vi phạm mới là chủ thể tội phạm này. |
| Khách thể của tội phạm | Tội không thi hành án là tội xâm phạm trực tiếp đến hoạt động tư pháp, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.
Đối tượng tác động của tội phạm này là các bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án. |
Tội không chấp hành bản án cũng là tội xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiên hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của người được thi hành án.
Đối tượng tác động của tội phạm này chính là các bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. |
| Mặt khách quan của tội phạm | Hành vi khách quan
Căn cứ vào chủ thể của tội phạm này thì người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi: không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của tòa án. Không ra quyết định thi hành án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án nhưng đã không ra quyết định thi hành, và do không ra quyết định thi hành án nên bản án hoặc quyết định của tòa án không được thi hành. Không thi hành quyết định thi hành bản án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc thi hành bản án nhưng đã không thi hành. Ví dụ: Mặc dù đã có quyết định thi hành bản án phạt tù đối với T, nhưng S – Trưởng công an huyện đã không tổ chức thi hành quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, nên T không bị bắt thi hành án và tiếp tục phạm tội mới. Hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án của người có nhiệm vụ phải thi hành là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có thể có cả hành vi không ra quyết định thi hành án và hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án. Tuy nhiên, nếu là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án thì hành vi không thi hành quyết định thi hành bản án là không thi hành quyết định của người khác chứ không phải chính quyết định của chính mình. Hậu quả Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án nhưng chưa dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn; chưa dẫn đến hết thời hiệu thi hành án; chưa dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng và cũng chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi không thi hành án, thì chưa cấu thành tội không thi hành án.
|
Hành vi khách quan
Hành vi khách quan của tội không chấp hành án là hành vi theo lý luận gọi là “không hành động”. Không hành động là không làm một việc mà có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được. Người phạm tội không chấp hành án là không thi hành quyết định của bản án và các quyết định khác của tòa án mà họ có nghĩa vụ phải thi hành như: không nộp tiền bồi thường cho cơ quan thi hành án để bồi thường cho người bị hại theo bản án đã tuyên; không giao nộp tài sản do phạm tội mà có mà bản án quyết định tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước; không giao nhà, đất mà theo bản án thì nhà đất đó phải giao cho người khác; không góp phí tổn nuôi con chung sau khi ly hôn không chịu cấp dưỡng cho người được cấp dưỡng theo quyết định của bản án; không nộp án phí theo quyết định của bản án mà tòa án đã tuyên… Hành vi không chấp hành bản án có thể kèm theo một số hành vi khác là hành động như: bỏ trốn, tránh mặt lúc lực lượng thi hành lệnh cưỡng chế; khóa cửa không cho lực lượng thi hành án đến thi hành, thậm chí có hành vi chống đối, lăng mạ, hành hung cán bộ thi hành án; tẩu tán tài sản đã bị kê biên… nhưng tất cả các hành vi này cũng chỉ là những thủ đoạn nhằm mục đích là để không chấp hành bản án hoặc quyết định của tòa án. Những hành vi này có thể có những hành vi cấu thành một tội phạm khác như: tội chống người thi hành công vụ, tội cố ý gây thương tích, tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản… Nếu những hành vi là thủ đoạn để không chấp hành bản án cấu thành tội phạm độc lập thì tùy trường hợp mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án và tội phạm tương ứng do thực hiện thủ đoạn không chấp hành bản án gây ra. Hậu quả Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Đối với tội không chấp hành án, ngoài hành vi khách quan nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan nếu thiếu nó thì hành vi không chấp hành án chưa cấu thành tội phạm, đó là “mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật”. Những biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật là để người có nghĩa vụ chấp hành phải chấp hành nhưng vẫn cố tình không chấp hành. Những biện pháp đó thường là các biện pháp cưỡng chế hành chính như: xử lý hành chính về hành vi không chấp hành án, quyết định kê biên tài sản, niêm phong tài sản, khấu trừ tiền lương, phong tỏa tài khoản, buộc rời khỏi nhà để giao nhà cho người khác nhưng không chịu rời khỏi nhà… Nói chung, sau khi đã áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật mà người phải thi hành án vẫn cố tình không chấp hành án và việc thi hành án không có kết quả thì người có hành vi không chấp hành án mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. |
| Mặt chủ quan của tội phạm | Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý.
Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. |
|
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề So sánh tội không thi hành án và tội không chấp hành án. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.



