Tội thao túng thị trường chứng khoán theo Điều 211 Bộ luật Hình sự

198

Thao túng thị trường chứng khoán là sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác mua, bán để thao túng giá chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để thao túng giá chứng khoán.

Tội thao túng thị trường chứng khoán, bị xử lý như thế nào
Tội thao túng thị trường chứng khoán, bị xử lý như thế nào

1. Tội thao túng thị trường chứng khoán, những dấu hiệu cơ bản

a. Chủ thể của tội phạm

Đối với người phạm tội

Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, bất cứ ai đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực hành vi và đến một độ tuổi nhất định đều có thể là chủ thể của tội phạm này.

Tuy nhiên, chủ thể của tội phạm này phải là những người tham gia vào hoạt động chứng khoán mới có thể thực hiện hành vi thao túng chứng khoán.

Đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Cũng như đối với các tội phạm khác mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, pháp nhân thương mại phải là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm: doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện: được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự 2015; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia hệ pháp luật một cách độc lập.

b. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến hoạt động chứng khoán, mà cụ thể là xâm phạm đến hoạt động bình thường của các công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng.

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là thị trường chứng khoán và giá chứng khoán.

c. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan

Thao túng thị trường chứng khoán là hành vi sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác mua, bán để thao túng giá chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để thao túng giá chứng khoán.

Người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại có thể thực hiện một hoặc các hành vi như :

– Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo.

– Đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau giao dịch mua, bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo.

– Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường.

– Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán.

– Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó.

– Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán.

Hậu quả

Có thể nói, hậu quả của tội phạm này vừa là dấu hiệu bắt buộc, vừa không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Là dấu hiệu bắt buộc, nếu chưa thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng, thì người phạm tội phải gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng thì hành vi mới cấu thành tội phạm.

Không phải là dấu hiệu bắt buộc, nếu người phạm tội đã thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng, thì hành vi mới cấu thành tội phạm.

Nếu hành vi của người phạm tội chưa cấu thành tội phạm thì có thể chỉ bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính theo Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31-12-2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Nếu hành vi thao túng nhưng không liên quan đến hoạt động chứng khoán, thì không thuộc trường hợp điều chỉnh của tội phạm này, mà tùy trường hợp người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “đầu cơ”, quy định tại Điều 196 Bộ luật Hình sự hoặc tội “vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp” quy định tại Điều 217a Bộ luật Hình sự hoặc tuy có liên quan đến hoạt động giao dịch nhưng là để lừa đảo người khác thì cũng không thuộc trường hợp quy định tại Điều 211 Bộ luật Hình sự mà đây là hành vi lừa đảo qua mạng xã hội hoặc hành vì “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

d. Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội là do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi thao túng thị trường chứng khoán là hành vi bị pháp luật cấm nhưng người phạm tội vẫn thực hiện gây thiệt hại cho nhà đầu tư, mong muốn cho nhà đầu tư bị thiệt hại, gây ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán.

Mục đích là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, được quy định ngay trong điều luật của cấu thành tội thao túng thị trường chứng khoán là nhằm thu lợi bất chính và gây thiệt hại cho nhà đầu tư. Nếu hành vi thao túng thị trường chứng khoán lại nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân để phá hoại thị trường chứng khoán thì hành vi thao túng chứng khoán là hành vi phạm tội “phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trong lĩnh vực kinh tế thuộc trường hợp quy định tại Điều 114 Bộ luật Hình sự.

Người phạm tội có thể vì động cơ khác nhau như: vì nể mối quan hệ lệ thuộc, nhưng chủ yếu là vì động cơ vụ lợi.

Xem thêm : Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán

2. Tội thao túng thị trường chứng khoán, bị xử lý như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể :

“Điều 211. Tội thao túng thị trường chứng khoán

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng với nhau liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;

b) Thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau giao dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo;

c) Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường;

d) Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán;

đ) Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó;

e) Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên;

c) Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”

3. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán ?

Nếu hành vi của người phạm tội chưa cấu thành tội phạm thì có thể chỉ bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính theo Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31-12-2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Căn cứ tại Điều 36 Nghị định 156/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 30 Điều 1 Nghị định 128/2021/NĐ-CP quy định như sau:

“Vi phạm thao túng thị trường chứng khoán

1. Phạt tiền 10 lần khoản thu trái pháp luật nhưng không thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định này đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định này thì áp dụng mức phạt tiền tối đa quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định này để xử phạt.

2. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, chi nhánh công ty chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề chứng khoán có thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng đối với người hành nghề chứng khoán có hành vi vi phạm quy định tại khoán 1 Điều này.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại khoản thu trái pháp luật có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.”

Tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định 156/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định 128/2021/NĐ-CP quy định như sau:

“Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về chứng khoán và thị trường chứng khoán

“b) Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực chứng khoán là 3.000.000.000 đồng đối với tổ chức và 1.500.000.000 đồng đối với cá nhân;”

Theo quy định trên, hành vi thao túng thị trường chứng khoán có mức xử phạt vi phạm hành chính bằng 10 lần khoản thu trái pháp luật nhưng không thấp hơn 3.000.000.000 đồng đối với tổ chức và 1.500.000.000 đồng đối với cá nhân.

Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn 3.000.000.000 đồng đối với tổ chức và 1.500.000.000 đồng đối với cá nhân thì áp dụng mức phạt tối đa là 3.000.000.000 đồng đối với tổ chức và 1.500.000.000 đồng đối với cá nhân.

Ngoài ra, tổ chức có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả gồm:

– Đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng.

– Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề chứng khoán có thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng đối với cá nhân hành nghề chứng khoán có hành vi vi phạm.

– Buộc nộp lại khoản thu trái pháp luật có được từ hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tội thao túng thị trường chứng khoán theo Điều 211 Bộ luật Hình sự. Nếu bạn có vướng mắc, hãy nhấc máy và gọi 0904902429 hoặc 0913597479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn hình sự.