Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Vậy trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn mà khi phát sinh tranh chấp con chung, tài sản chung,… thì giải quyết như thế nào ?

MỤC LỤC
- 1. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là gì ?
- 2. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có trái pháp luật ?
- 3. Không đăng ký kết hôn, có cần ra Tòa để ly hôn không ?
- 4. Hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- 5. Chưa đăng ký kết hôn – nhiều “hệ lụy” không mong muốn
- 6. Ai có quyền nuôi con khi không đăng ký kết hôn?
- 7. Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi không kết hôn?
1. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là gì ?
– Trong xã hội hiện nay, tồn tại nhiều cách hiểu về “nam nữ chung sống như vợ chồng”. Theo cách hiểu chung nhất nam nữ chung sống như vợ chồng là hành vi của hai bên nam nữ, tuy không phải là vợ chồng nhưng đã ăn ở với nhau và coi nhau là vợ chồng. Họ liên kết với nhau trên cơ sở tự nguyện và không đăng ký kết hôn.
– Việc kết hôn chỉ có giá trị pháp lý khi hai bên nam nữ tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn. Nam nữ chung sống như vợ chồng (một số trường hợp có tổ chức đám cưới) mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì sẽ không được công nhận là vợ chồng trước pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, các bên chung sống vẫn coi nhau là vợ chồng và mọi người xung quanh vẫn cho rằng họ là vợ chồng của nhau.
2. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có trái pháp luật ?
Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có bất kỳ quy định nào nghiêm cấm nam, nữ chung sống như vợ chồng.
Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nghiêm cấm các hành vi chung sống như vợ chồng sau đây:
– Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
– Chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
3. Không đăng ký kết hôn, có cần ra Tòa để ly hôn không ?
Nam nữ chung sống như vợ chồng (một số trường hợp có tổ chức đám cưới) mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì sẽ không được công nhận là vợ chồng trước pháp luật.
Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về thụ lý đơn yêu cầu ly hôn như sau :
Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn, tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 điều 14 của luật này.
Do đó, khi gửi đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, nên không giải quyết ly hôn tại tòa án.
4. Hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Điều 14, 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau :
– Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
– Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
– Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết như sau :
+ Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định tại Mục I chương V Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Xem thêm : Không đăng ký kết hôn, có phải cấp dưỡng cho con ?
+ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
Xem thêm : Sống chung mà không đăng ký kết hôn, tài sản chung được chia như thế nào ?
5. Chưa đăng ký kết hôn – nhiều “hệ lụy” không mong muốn
Trào lưu sống thử đang khiến những cặp nam nữ sống chung như vợ chồng gặp rất nhiều hệ lụy không tốt kèm theo. Trước hết, pháp luật không công nhận quan hệ hôn nhân của hai người bởi theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) có nêu rõ:
Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Nếu không thì không có giá trị pháp lý
Do vậy, việc sống chung không đăng ký kết hôn với cơ quan có thẩm quyền thì việc sống chung đó không được coi là quan hệ hôn nhân, không được pháp luật bảo vệ. Kéo theo đó là hàng loạt những “hệ lụy” không mong muốn như:
– Không được bảo vệ nếu có người thứ ba: Không phải là vợ chồng hợp pháp thì không có quyền, nghĩa vụ ràng buộc với nhau như yêu thương, chung thủy… (Điều 19 Luật HN&GĐ).
– Khai sinh cho con không có tên cha : Một trong những giấy tờ cần có khi đăng ký khai sinh cho con là giấy đăng ký kết hôn. Nếu không có thì những đứa con chung sẽ được khai sinh theo trường hợp chưa xác định được cha và phần ghi thông tin về cha sẽ bị để trống;
– Khó xử lý tài sản chung : Với những tài sản đứng tên một người trong thời gian sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn, việc chứng minh phần đóng góp của người còn lại sẽ rất khó khăn…
6. Ai có quyền nuôi con khi không đăng ký kết hôn?
Theo quy định tại Điều 14 Luật HN&GĐ, dù có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký mà chỉ sống chung với nhau như vợ chồng thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng. Nhưng quyền, nghĩa vụ với con vẫn được xác lập.
Theo đó, Điều 71 Luật này nêu rõ, cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Do đó, khi không chung sống với nhau nữa thì việc quyết định ai nuôi con vẫn dựa vào nguyên tắc thỏa thuận.

Hai người có thể thỏa thuận về người nuôi con, nghĩa vụ, quyền của các bên khi không chung sống với nhau nữa. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi của con để giao con cho người nào trực tiếp nuôi dưỡng.
Tuy nhiên, có 02 trường hợp đặc biệt sau, Tòa án sẽ:
– Xem xét nguyện vọng của con nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên;
– Mẹ trực tiếp nuôi con khi con dưới 36 tháng tuổi. Dù vậy, nếu người mẹ không đủ điều kiện để nuôi con thì Tòa có thể xem xét giao con cho cha hoặc người khác đáp ứng đủ điều kiện.
Như vậy, quan hệ giữa cha, mẹ, con vẫn tồn tại mà không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ.
Do đó, khi muốn giành quyền nuôi con trong trường hợp này thì một trong hai người có thể thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì phải chứng minh được bản thân có điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của con.
7. Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi không kết hôn?
Cấp dưỡng được hiểu là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền, tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người chưa thành niên, đã thành niên mà không có khả năng lao động… có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng nhưng không sống chung với mình. (Điều 3 Luật HN&GĐ).
Như phân tích ở trên, dù cha mẹ không đăng ký kết hôn nhưng quyền, nghĩa vụ đối với con vẫn không khác với khi đăng ký kết hôn. Bởi vậy, nếu không trực tiếp nuôi con, cha hoặc mẹ cũng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù có nghĩa vụ nhưng việc xác nhận quan hệ cha, mẹ con trong trường hợp không đăng ký kết hôn là rất khó. Bởi nếu muốn được cấp dưỡng thì bắt buộc phải được công nhận là cha, mẹ con.
Nói tóm lại, để có thể giành được quyền nuôi con khi không đăng ký kết hôn, cha hoặc mẹ phải thỏa thuận được với nhau. Nếu không, khi yêu cầu Tòa án giải quyết thì phải chứng minh được bản thân có đủ điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên đây là tư vấn của luật sư về vấn đề Tranh chấp quyền nuôi con khi chưa đăng ký kết hôn Hãy nhấc máy và gọi 0904 902 429 hoặc 0913 597 479 để trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn. Mọi vướng mắc của bạn sẽ được hỗ trợ nhiệt tình và nhanh chóng.



